Chương trình hợp nhất 808.558 tỷ đồng: Để mỗi đồng vốn đến đúng người dân. Bài 1: Một đồng ngân sách, gần trăm đồng xã hội
Ngày 24/8/2026, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 46/2026/QH16, hợp nhất bốn chương trình mục tiêu quốc gia – phát triển văn hóa; hiện đại hóa giáo dục và đào tạo; xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi; chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển – thành Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035, với tổng nguồn lực 808.558 tỷ đồng cho 5 năm đầu, trong đó ngân sách trung ương 345.000 tỷ đồng. Loạt bài tập trung vào mảng xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi – phần kế thừa trực tiếp từ ba chương trình giai đoạn 2021-2025, nơi đã để lại nền tảng gần 80% số xã đạt chuẩn nông thôn mới và thu nhập người dân tộc thiểu số tăng hơn 3 lần. Bước vào giai đoạn mới, yêu cầu đặt ra cao hơn: nguồn lực phải được đếm đúng, mục tiêu phải đo được và cách làm phải đến được cơ sở.

Chương trình hợp nhất đặt mục tiêu phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc. Ảnh: Hữu Nghị
Bài 1: Một đồng ngân sách, gần trăm đồng xã hội
Năm năm qua, ngân sách trung ương chỉ đóng góp khoảng 1,1% tổng nguồn lực xây dựng nông thôn mới. Phần lớn còn lại đến từ địa phương, ngân hàng, doanh nghiệp và chính những người dân trực tiếp thụ hưởng. Bước sang giai đoạn mới, cơ quan điều phối chương trình đang từng bước để mỗi đồng vốn được đếm rõ hơn, dùng đúng hơn.

Đường giao thông, khu dân cư khang trang giữa những đồi chè ở Mộc Châu (Sơn La) – thành quả có sự góp sức của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Ảnh: Hữu Nghị
“Vốn mồi” và sức lan tỏa
Theo Báo cáo nghiên cứu khả thi số 81/BC-VPĐP-KHTC ngày 31/01/2026 của Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương, giai đoạn 2021-2025, cả nước huy động khoảng 3,85 triệu tỷ đồng cho xây dựng nông thôn mới, gấp 1,8 lần giai đoạn 2016-2020.
Điều đáng chú ý là ngân sách trung ương hỗ trợ trực tiếp chỉ chiếm khoảng 1,1%, tương đương chừng 42.000 tỷ đồng. Nói cách khác, cứ mỗi đồng Nhà nước bỏ ra, các nguồn khác đã cùng góp thêm gần 90 đồng. Ngân sách địa phương các cấp chiếm khoảng 7,4%, vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án khác khoảng 7,1%, doanh nghiệp và đóng góp tự nguyện của người dân, cộng đồng khoảng 22,2%, còn vốn tín dụng chiếm tới 62,3%.
Cơ cấu ấy phản ánh đúng tinh thần mà chương trình nông thôn mới theo đuổi từ những ngày đầu: ngân sách là vốn mồi, người dân là chủ thể.
Người dân góp đất, góp công
Nếu phải chọn một con số để nói về sức dân, có lẽ đó không phải là tiền. Báo cáo ghi nhận hàng triệu hộ dân đã tự nguyện hiến hơn 98,2 triệu mét vuông đất, cùng hàng chục nghìn tỷ đồng và ngày công để mở đường, dựng nhà văn hóa, xây trường học. Từ những đóng góp âm thầm ấy, đến năm 2025 cả nước đã có 6.084/7.669 xã, tức 79,3% số xã, đạt chuẩn nông thôn mới.
Ở lĩnh vực giảm nghèo, cách thống kê đóng góp của người dân được thực hiện khá rành mạch. Cũng theo báo cáo trên, người dân và cộng đồng đã đóng góp 1.774 tỷ đồng cho Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025, trong đó chỉ 493 tỷ đồng là tiền mặt, còn 1.281 tỷ đồng là ngày công và hiện vật quy đổi. Con số được tách bạch như vậy cho thấy đóng góp của người nghèo chủ yếu là công sức, phù hợp với nguyên tắc “không huy động quá sức dân” mà chương trình đặt ra.

Người dân cùng bộ đội, dân quân đổ bê tông đường vào bản. Ngày công, đất hiến và tinh thần “Nhà nước và nhân dân cùng làm” đã góp phần làm nên diện mạo mới của nông thôn vùng cao. Ảnh: Đình Tuân
Khoản chiếm tỷ trọng lớn nhất, 62,3%, là vốn tín dụng. Theo chú thích của báo cáo, đây là tổng dư nợ cho vay trên địa bàn các xã toàn quốc tính đến hết quý II/2025, theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước. Hiểu một cách đơn giản, đó là số tiền bà con nông thôn đang vay ngân hàng để sản xuất, kinh doanh, làm nhà.
Cách tính này có cơ sở của nó. Nông thôn mới không chỉ là đường, trường, trạm mà còn là sản xuất và thu nhập, và dòng vốn ngân hàng chảy về nông thôn chính là một động lực quan trọng. Tuy vậy, bạn đọc cũng cần hiểu đây là số dư nợ của toàn xã hội tại một thời điểm, khác với những khoản chi ngân sách được dành riêng cho chương trình. Biết như vậy để thấy con số 3,85 triệu tỷ đồng là bức tranh nguồn lực chung của khu vực nông thôn, chứ không phải toàn bộ đều là tiền chi cho nông thôn mới.
Giai đoạn mới: đếm kỹ, làm chắc
Bước sang giai đoạn 2026-2030, cách xác định nguồn lực đã có thay đổi rõ nét. Nghị quyết số 46/2026/QH16 ngày 24/8/2026 của Quốc hội hợp nhất bốn chương trình mục tiêu quốc gia với tổng nguồn lực 808.558 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách trung ương 345.000 tỷ đồng và ngân sách địa phương 395.392 tỷ đồng, cộng lại chiếm hơn 90%. Nguồn lực giờ đây được xác định chủ yếu từ những khoản Nhà nước quản lý, theo dõi và kiểm toán được.
Song song, Bộ Nông nghiệp và Môi trường với vai trò cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo, cùng Văn phòng Điều phối Trung ương là bộ phận giúp việc, đã làm nhiều việc nền tảng ngay trong năm đầu. Đáng chú ý là việc làm sạch dữ liệu hộ nghèo: hơn 5 triệu bản ghi đã được tập hợp, trong đó gần 4 triệu bản ghi được đối soát cùng C06, Bộ Công an, để hỗ trợ đến đúng người và hạn chế trùng lặp. Bộ cũng ban hành Sổ tay hướng dẫn hệ thống hóa 54 văn bản để cán bộ cơ sở dễ tra cứu, tổ chức 18 lớp tập huấn cho khoảng 17.000 cán bộ trong tháng 6 và tháng 7/2026, đồng thời xây dựng hệ thống giám sát, đánh giá kết nối với hệ thống chung do Bộ Tài chính quản lý.
Báo cáo giám sát số 589/BC-HĐDT16 ngày 30/9/2026 của Hội đồng Dân tộc ghi nhận hệ thống cơ chế, hướng dẫn ở trung ương đã hoàn thành sớm hơn khoảng một tháng so với tiến độ Chính phủ giao, và đánh giá đây là kết quả của việc rút kinh nghiệm từ tình trạng chậm hướng dẫn ở giai đoạn trước.
Để con số càng thuyết phục
Nghị định về chương trình hợp nhất đang được hoàn thiện, cũng là thời điểm thuận lợi để thống nhất cách đếm nguồn lực. Theo hướng đó, vốn Nhà nước dành cho chương trình nên được tách riêng khỏi nguồn lực xã hội chung trên địa bàn; phần tín dụng nên được ghi theo số vốn cho vay đúng đối tượng, đúng mục tiêu của chương trình. Cách tách đóng góp của dân thành tiền, hiện vật, ngày công và đất hiến, như lĩnh vực giảm nghèo đã làm, cũng có thể áp dụng cho toàn chương trình. Xa hơn, như Hội đồng Dân tộc đã kiến nghị, cơ quan điều phối, cơ quan tài chính, Kho bạc và địa phương cần dùng chung một bộ mã cho nguồn vốn, dự án và đối tượng thụ hưởng.
Khi mỗi đồng vốn được đếm rõ nguồn gốc, đóng góp của người dân và hiệu quả của đồng vốn mồi từ ngân sách sẽ càng được ghi nhận xứng đáng. Nhưng nguồn lực mới là điều kiện cần. Câu hỏi tiếp theo là nguồn lực ấy hướng tới đích đến nào, và đích đến ấy được đo bằng gì.
(Còn nữa)
