Cơm trắng mỗi ngày…
Ở Quảng Trị bây giờ, đã hình thành trên 100 mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, liên doanh, liên kết có hiệu quả, gắn với thương hiệu sản phẩm hàng hóa được tiêu thụ trong và ngoài nước. Các loại gạo hữu cơ Quảng Trị, gạo sạch Triệu Phong, Hải Lăng... đã được người tiêu dùng trên thị trường đón nhận.

Gạo hữu cơ Quảng Trị sản xuất theo công nghệ sạch đã được người tiêu dùng đón nhận
Mới ngày nào, cô thạc sĩ nông học đam mê đất đai, nước nôi, cây cỏ đã đi cả ngàn cây số vào Quảng Trị gặp tôi chỉ để tìm một câu trả lời: “Dấu tích chiến tranh ở đâu anh, sao em không thấy? Sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh ở đâu? Đâu là vành đai trắng? Trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ, Quảng Trị quê anh là nơi bị tàn phá đến 200%, vậy mà bây giờ, cuộc sống còn an hòa và trù mật hơn cả miền trung du cực bắc quê em nữa là sao?...”.
Lần đó, tôi đã không trả lời em. Biết nói gì với em khi để cắt nghĩa được câu hỏi đó, người và đất quê tôi đã phải đi trọn hơn một phần tư thế kỉ, đổ ra không biết bao nhiêu mồ hôi, công sức, máu xương, can trường và bền bỉ hết thế hệ này đến thế hệ khác để làm cho đất đai trở về vẹn nguyên sự tơi xốp, lành lặn, mỡ màu; cho cuộc sống hồi sinh và giàu có, thịnh vượng từ đất.
Bây giờ, có dịp, em lại hỏi tôi, làm ra được hạt lúa trên đất Quảng Trị có gì vất vả hơn so với những nơi khác? Tôi đã trả lời em rằng, không chỉ vất vả hơn mà còn nặng nhọc hơn, lao khổ hơn, nhiều mồ hôi, có cả máu, nước mắt và sự trăn trở hơn.
Tôi đã đọc cho em nghe một đoạn trong bút kí “Hành lang của người và gió” của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường: “Nắng táp vào mặt tôi từng chiếc lưỡi nóng bỏng, như thể đâu đó giữa không trung, những con quái vật thời tiền sử đang phun lửa xuống mảnh đất khô khốc vùng hỏa tuyến. Gió tràn qua những ngôi làng đất ba dan vùng Gio Linh, dấy lên những đám bụi đỏ mịt mùng. Dưới sức thiêu đốt của gió, tre già nổ ran như tiếng súng giao tranh trải khắp một vùng mênh mông dưới chân Dốc Miếu…”. Em đã rưng rưng nước mắt khi hình dung quê tôi ngày mới bước ra khỏi cuộc chiến tranh khốc liệt và đã trắc ẩn thốt lên, đúng y như câu gan ruột mà nhà thơ Chế Lan Viên đã bật ra từ đáy lòng khi thăm khu chợ nghèo của quê hương Cam Lộ sau ngày giải phóng: “Cực đến thế, thương quá đi thôi!”.
Tôi chia sẻ với em những kỉ niệm còn găm giữ mãi trong thẳm sâu kí ức tôi, những năm tháng sau ngày quê hương mới giải phóng, làm ra được hạt lúa có khi đánh đổi cả một phận người. Thời đó, trong suốt cuộc phục sinh nhọc nhằn và cao cả biến cỏ hoang thành đồng ruộng trong vô vàn bom đạn còn sót lại đã đặt ra rất nhiều thách thức. Người nông dân Quảng Trị ra đồng, bên cây cuốc là cây thuốn sắt, bên dao rựa phát quang là nắm cờ đỏ đuôi nheo. Vừa rà mìn, vừa vỡ đất, vừa cày cuốc, vừa nghe ngóng. Chỉ cần lưỡi cày đụng nhẹ một vật cứng bằng kim loại, trâu bò được “họ” lại ngay. Người nông dân lập tức trở thành người lính công binh thực thụ, lần tìm vật nổ ngay trước rãnh cày mới vỡ. Mãi mãi không bao giờ quên cảnh vào vụ mới, hàng đoàn người sắp hàng ngang vung vồ đập đất, bụi tung trắng cả cánh đồng. Một chiếc vồ định mệnh vung lên. Một tiếng nổ xé toang ban mai tĩnh mịch. Nhiều người dân làng ngã xuống. Máu tươi trộn với đất nâu trong đau thương nhưng kiêu hãnh làm sao!
Không chỉ từng là nơi chiến địa ròng rã hơn hai mươi năm đạn bom chà qua xát lại, Quảng Trị nổi tiếng bởi vùng đất có khí hậu khắc nghiệt với đủ các loại hình thiên tai tàn phá hằng năm, từ bão tố, lũ ngập, lũ quét, hạn hán, rét đậm, rét hại, lở đất, mất đồng… Dải đồng bằng hẹp như lá lúa nằm kẹp giữa một bên là vùng gò đồi choãi ra tận bể, một bên là miên man cát trắng kéo dài từ Hạ Cờ, Chấp Lễ, Vĩnh Linh đến cuối nguồn Ô Lâu, Mỹ Chánh, Hải Lăng. Làm được bát cơm đầy trên vùng đất khó, người Quảng Trị phải nỗ lực gấp nhiều lần so với những nơi bờ xôi ruộng mật. Cũng không có gì ngạc nhiên sau ba mươi năm xây dựng và phát triển, nông nghiệp Quảng Trị đã để lại nhiều dấu ấn đậm đà nhất trong công cuộc đổi mới do có sự chăm chút, lo toan của cả hệ thống chính trị và mỗi một người nông dân. Một nền kinh tế “giá trị’ đã dần thay cho “sản lượng”, đã có sự dịch chuyển từ tư duy “bát cơm đầy”- nhiều sản lượng sang “bát cơm ngon”- mang lại nhiều giá trị, đặc biệt là lợi nhuận hợp lí cho nông dân. Như vậy, trong nông nghiệp Quảng Trị đã có sự kết hợp giữa quyết tâm chính trị và bài toán kinh tế để có cơ sở hoàn thành ba nhiệm vụ quan trọng là cung cấp lương thực, thực phẩm cho xã hội, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và nông sản cho xuất khẩu.

Mùa gặt
Là chuyên gia về nông nghiệp, em đã từng đề nghị tôi có số liệu thật thuyết phục để chứng minh cho sự thăng tiến vượt bậc trong sản xuất cây lúa trên đồng đất Quảng Trị. Thì đây, vào năm 1988, một năm trước khi tỉnh Quảng Trị về lại với tên gọi của mình, thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị với việc xác định hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ, phát triển kinh tế nhiều thành phần, đổi mới từ cơ chế quản lí tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm cho kinh tế nông nghiệp của tỉnh bắt đầu có bước khởi sắc. Ngay từ năm 1989, khi tỉnh Quảng Trị mới lập lại, với 66.195 ha gieo trồng, sản lượng lương thực quy thóc đã đạt 13,4 vạn tấn, từ chỗ thiếu ăn, tỉnh cơ bản tự túc được lương thực và tạo đà cho sự phát triển sau này.
Điều đặc biệt là trong nội bộ nền kinh tế luôn có sự chuyển dịch tích cực. Năm 2018 tỉnh Quảng Trị hoàn thành đạt và vượt mức 24/24 chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Nỗ lực đáng ghi nhận là nền kinh tế của tỉnh đã bắt kịp đà tăng trưởng của cả nước, tốc độ tăng trưởng đạt 7,12% so với năm 2017 (kế hoạch: 7-7,5%), cao hơn tăng trưởng một số tỉnh liền kề trong khu vực miền Trung. Trong đó, mức tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay thuộc về lĩnh vực nông nghiệp với chỉ số ấn tượng: 5,56%. GRDP bình quân đầu người năm 2018 đạt 43,6 triệu đồng (kế hoạch là 42 triệu đồng). Tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới được đẩy mạnh theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững. Nổi bật là tổng diện tích gieo trồng lúa toàn tỉnh năm 2018 đạt 50.708,3 ha. Cả hai vụ sản xuất lúa hè thu và đông xuân đều đạt năng suất, sản lượng và giá trị cao nhất từ trước đến nay. Năng suất lúa bình quân toàn tỉnh đạt 56,2 tạ/ha. Sản lượng lương thực đạt gần 29 vạn tấn.
Trong câu chuyện về “bát cơm ngon”, tôi muốn kể cho em nghe hành trình của những doanh nhân, nông dân luôn nặng lòng, trăn trở với cây lúa trên đất nghèo Quảng Trị. Trong sản xuất nông nghiệp, việc áp dụng những điều mới mẻ thường luôn gặp trở lực từ những thói quen tư duy cũ. Phần lớn người nông dân làm ruộng và bằng lòng với kết quả của mình thông qua kinh nghiệm, nhưng kinh nghiệm vốn được xây dựng bằng những kiến thức cũ và rất dễ xung đột với cái mới. Quá trình cơ cấu lại nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ, bền vững, thân thiện với môi trường bắt đầu từ việc tuyên truyền, vận động, xây dựng mô hình để dần thay đổi nhận thức và tập quán sản xuất của người nông dân theo hướng hiệu quả, tiến bộ. Quá trình vận động này diễn ra rất lâu dài, khó nhọc, cần sự vào cuộc tích cực của các ban, ngành chức năng và chính quyền địa phương, trong đó không thể không kể đến sự đóng góp thầm lặng, hiệu quả của những doanh nhân- nông dân năng động, sáng tạo.
Đó là anh Hồ Xuân Hiếu, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tổng công ty Thương mại Quảng Trị, người triển khai việc khảo sát, thu mua loại gạo huyết rồng của cư dân vùng Triệu Phước, Triệu Phong, trung bình một mùa từ 20- 30 tấn. Sau khi khuyến cáo nông dân thu hoạch theo kiểu truyền thống, lúa được đưa lên chà vỏ tại nhà máy chế biến sao cho chỉ áo trấu bị loại bỏ, sau đó tiến hành sàng sảy, chọn hạt và đóng gói, tuyệt đối không dùng chất bảo quản. Một bì gạo huyết rồng có trọng lượng 2 kg, có nhãn mác rõ ràng, giá bán 40.000 đồng, bắt đầu thâm nhập vào thị trường trong và ngoài tỉnh và được thị trường đón nhận. Đó là thạc sĩ, kiến trúc sư Bùi Đức Huy với làm ra hạt lúa sạch, nông sản sạch ngay trên chính quê hương Quảng Trị để góp phần đảm bảo sức khỏe cho cộng đồng và cả những người nông dân nhà mình bằng việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ. Ngay trong vụ đông xuân 2017-2018, toàn tỉnh Quảng Trị tăng diện tích lúa hữu cơ lên 158,6 ha, định hình mô hình sản xuất lúa hữu cơ chất lượng cao dùng hoàn toàn bằng phân bón hữu cơ vi sinh Obi-Ong biển, không dùng phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật. Doanh nghiệp kí kết hợp đồng với nông dân để sản xuất, cho nông dân ứng trước phân bón hữu cơ Obi- Ong biển, cuối vụ khấu trừ qua sản lượng lúa thu mua. Đáng mừng là vụ đông xuân vừa qua, năng suất lúa tươi bình quân đạt 55 tạ/ha, cho thu nhập bình quân 44 triệu đồng/ha, cá biệt nơi cao đạt 80 tạ/ha, cho thu nhập 64 triệu đồng/ha. Công ty thu mua ngay tại chân ruộng 8.000 đồng/kg, trong lúc giá thị trường chỉ xấp xỉ 6.000 đồng/kg. Sau khi trừ chi phí giống, phân bón, làm đất, thu hoạch cho lãi bình quân 26 triệu đồng/ha, nơi có năng suất cao cho lãi 38 triệu đồng/ha, cao hơn sản xuất lúa đại trà từ 6-18 triệu đồng/ha.
Ngay tại một địa phương ở vùng trọng điểm lúa của Triệu Phong như xã Triệu Thuận, mô hình “Sản xuất lúa theo hướng hữu cơ sử dụng giống lúa mới năng suất chất lượng cao” cũng đã được triển khai mấy mùa gần đây. Mô hình sử dụng giống lúa Bắc Thơm 7 trên diện tích 20 ha, áp dụng quy trình sản xuất lúa theo hướng hữu cơ sử dụng công cụ sạ hàng; sử dụng phân bón hữu cơ Quế Lâm và 100% hộ tham gia mô hình sử dụng phân chuồng được ủ bằng chế phẩm Trichoderma. Mô hình không sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật hóa học, chỉ sử dụng thuốc có nguồn gốc sinh học; chế độ tưới nước khoa học, phù hợp nhu cầu phát triển của cây lúa. Qua quá trình triển khai cho thấy, áp dụng quy trình sản xuất theo hướng hữu cơ khả năng chống chịu sâu bệnh của cây lúa tốt hơn, trong thời kỳ trổ ruộng ít nhiễm rầy, khô vằn, cho bông dài, lúa sạch sâu bệnh, cây sinh trưởng phát triển khỏe mạnh, cứng cây không bị đổ ngã khi gặp mưa giông. Năng suất cuối vụ của mô hình đạt 58 tạ/ha, cao hơn 4 tạ/ha so với sản xuất đại trà.
Em có nói rằng theo lí thuyết của nhà tâm lí học người Mỹ Abraham Maslow (1908-1970) về nhu cầu con người từ thấp đến cao, ăn chỉ là nhu cầu cơ bản, nằm ở tầng thấp nhất cùng với mặc và ở. Người Việt rồi cũng sẽ như vậy. Kinh tế phát triển, bữa cơm của người Việt đang thay đổi dần từ bữa ăn no sang bữa ăn dinh dưỡng. Và xu hướng của nông dân Việt vẫn là vươn lên làm giàu bằng cách từ bỏ tư duy sản xuất nông sản với giá rẻ, bằng bất cứ giá nào, mà chuyển sang sản xuất lúa sạch, có hàm lượng dinh dưỡng cao, các loại nông sản an toàn, thân thiện với môi trường...
Ba mươi năm qua rồi, trên đồng đất Quảng Trị, tự cây lúa thôi cũng đã nói lên sức vươn của đất và người Quảng Trị trên hành trình xây dựng lại quê hương từ trong muôn vàn gian khó, như câu thơ hào sảng mà đọc lên, tưởng như nhà thơ viết để riêng tặng quê hương Quảng Trị thương mến của tôi thôi:
Trời mỗi ngày lại sáng
Như cơm trắng mỗi ngày...
Nguồn Quảng Trị: http://www.baoquangtri.vn/default.aspx?tabid=72&modid=419&itemid=140299
