Bước sang năm mới 2026, Việt Nam không còn đứng ở ngưỡng chuẩn bị. Chúng ta đã bước hẳn vào chặng đường thực thi sau Đại hội XIV – nơi những mục tiêu lớn bắt đầu được kiểm nghiệm bằng hành động cụ thể.
Nhân dịp xuân Bính Ngọ, VietNamNet có cuộc phỏng vấn TS. Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương về những định hướng lớn phát triển kinh tế - xã hội trong Văn kiện Đại hội 14.
Hành trình 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới không chỉ đánh dấu bởi những chỉ số phát triển ấn tượng, mà là một cuộc cách mạng sâu sắc về tư duy, định hình lại vị thế của Việt Nam trên bản đồ thế giới.
Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đạt những bước tiến toàn diện về kinh tế, hội nhập và an sinh xã hội, khẳng định vị thế quốc tế ngày càng cao và tạo nền tảng vững chắc hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Với nền tảng vững chắc từ 40 năm Đổi mới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đoàn kết, chung sức đồng lòng, tự tin, tự lực, tự cường quyết tâm xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng, vì hạnh phúc nhân dân, như Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đề ra. Phóng viên Báo SGGP ghi nhận ý kiến của lãnh đạo Chính phủ, bộ ngành, chuyên gia, doanh nghiệp về tâm huyết cùng chung tay xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới.
Nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, nhất là năm 2025, liên tục ghi nhận những thành tựu toàn diện, với những cột mốc và đỉnh cao vượt trội của một Việt Nam đã và đang nỗ lực vượt qua các thách thức thời đại và vượt qua chính mình. Tính chung giai đoạn 2021-2025, Việt Nam đã đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu chủ yếu, trong đó, vượt toàn bộ các chỉ tiêu về xã hội và an sinh xã hội. GDP bình quân tăng 6,3% (cao hơn mức tăng 6,2% của nhiệm kỳ trước). Quy mô nền kinh tế tăng gần 1,5 lần, từ 346 tỷ USD năm 2020 lên 514 tỷ USD năm 2025 và tăng 5 bậc, lên vị trí 32 thế giới và thứ 4 trong ASEAN; GDP bình quân đầu người năm 2025 ước đạt khoảng 5.026 USD, gấp 1,4 lần năm 2020, đưa nước ta vào nhóm thu nhập trung bình cao.
Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, kinh tế thế giới diễn biến phức tạp và đầy bất ổn, đòi hỏi những quyết sách không chỉ chuẩn xác mà còn phải linh hoạt, sáng tạo. Chính trong những điều kiện thử thách nhất, Việt Nam lại khẳng định được sức bật, đạt và vượt nhiều mục tiêu kinh tế - xã hội quan trọng, thể hiện qua kết quả năm 2025 và cả nhiệm kỳ 2021 - 2025.
Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương báo cáo những nội dung chủ yếu về 'Đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030) và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2026 - 2030'. Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy xin trân trọng giới thiệu toàn văn báo cáo này.
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng diễn ra sáng nay (7/2), đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đã trình bày Chuyên đề 'Đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030) và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2026 - 2030'.
Năm 2025, dù có nhiều khó khăn, thách thức từ bên ngoài; thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp nhưng với tinh thần chủ động, sáng tạo, quyết liệt, kịp thời, hiệu quả trong chỉ đạo, điều hành, kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục đạt được nhiều kết quả ấn tượng, tạo đà phát triển nhanh, bền vững, bao trùm, toàn diện.
Theo Nghị quyết Đại hội 14 của Đảng, Đại hội đồng ý không sửa Điều lệ Đảng hiện hành, đồng thời giao Trung ương nghiên cứu tổng kết thi hành để đề xuất bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng dịp kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Đảng.
40 năm Đổi mới đã đưa Việt Nam đi qua một hành trình phát triển đặc biệt, từ một nền kinh tế khủng hoảng, khép kín trở thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình và hội nhập sâu rộng với thế giới. Chặng đường đã qua không chỉ ghi nhận những thành tựu to lớn về kinh tế – xã hội, mà còn đặt ra những yêu cầu mới về mô hình, chất lượng tăng trưởng và quỹ đạo phát triển trong tương lai. Nhìn lại những nền tảng đã được xác lập, chỉ ra những giới hạn và thách thức hiện hữu, đồng thời gợi mở con đường phát triển mới để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn 2045 là những vấn đề cấp thiết.
Tổng Bí thư Tô Lâm đã cảnh báo: 'Nếu để lỡ thời cơ hoặc chậm trễ, sai sót trong giai đoạn bản lề, cái giá phải trả sẽ rất đắt – có thể đánh mất cơ hội của cả dân tộc, tụt hậu xa hơn trong một thế giới biến động nhanh chóng'.
Cách nhau 40 năm (1986 - 2026), Đại hội Đảng VI và Đại hội XIV, một sự trùng lặp lịch sử đáng để suy ngẫm, giữa Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Tổng Bí thư Tô Lâm - người khởi đầu công cuộc đổi mới, người tiếp nối và phát triển công cuộc đổi mới ở mức độ cao hơn, quyết liệt hơn, hoàn thiện và phát triển bền vững hơn, bảo đảm môi trường chính trị - xã hội ổn định để phát triển đất nước.
Để nền kinh tế có thể tăng trưởng 2 con số, bắt đầu từ năm 2026, 'chìa khóa' nằm ở việc đổi mới mô hình tăng trưởng, dựa vào năng suất và đổi mới sáng tạo. Việc xác lập mô hình tăng trưởng mới giai đoạn 2026-2030 với mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 10%/năm, không chỉ là khát vọng, mà còn là thách thức để hoán chuyển thành cơ hội phát triển.
Đại hội XIV của Đảng đề ra mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng nêu 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030; phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã được 100% đại biểu dự Đại hội biểu quyết thông qua. Một số mục tiêu, chỉ tiêu phát triển chủ yếu 5 năm được Đại hội đề ra là: Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD...
Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV do Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày đặt ra một mệnh lệnh phát triển: tăng trưởng cao nhưng phải bền vững, dựa trên năng suất – đổi mới sáng tạo, và được 'bảo lãnh' bằng Nhà nước pháp quyền hiện đại. Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026–2030 từ 10%/năm trở lên không chỉ là chỉ tiêu kinh tế, mà là 'bài kiểm tra' năng lực cải cách thể chế và chất lượng thực thi.
Ngành Công Thương giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, trong đó bảo đảm an ninh năng lượng là điều kiện then chốt.
Nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng diễn ra trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều biến động phức tạp, khó lường, đặc biệt là tác động sâu rộng của đại dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược gia tăng, đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, nguy cơ suy thoái kinh tế, cũng như những thách thức truyền thống và phi truyền thống đan xen.
Để hiện thực hóa các mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, đồng chí Nguyễn Văn Thắng - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính - đã nêu 6 nhóm giải pháp trong xây dựng và hoàn thiện thể chế nhằm huy động, sử dụng ngày càng hiệu quả nguồn lực tài chính, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững.
Theo Bộ Tài chính, mục tiêu đến năm 2030 sẽ có không quá 3.000 dự án sử dụng vốn ngân sách Trung ương, tạo động lực hút vốn đầu tư của các thành phần kinh tế khác.
Trên nền tảng đã xây dựng và khát vọng chuyển mình vươn lên của dân tộc, Việt Nam có đủ điều kiện, tiềm năng, dư địa và tự tin để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế trên 10% giai đoạn tới.
Phát biểu tham luận tại phiên họp sáng 21.1 Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Anh Tuấn trình bày tham luận với chủ đề 'Các giải pháp chiến lược nhằm tăng trưởng kinh tế 2 con số trong giai đoạn 2026 – 2030'.
Chiều ngày 21/1, trong phiên thảo luận ở hội trường về các Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng đã trình bày tham luận về 'Hoàn thiện thể chế, pháp luật về huy động, sử dụng nguồn lực tài chính đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững'.
Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong giai đoạn tới, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đề xuất một số giải pháp chiến lược, đó là phải bảo đảm duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế, bảo đảm tự chủ chiến lược, tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế đất nước nhanh và bền vững cả trong trước mắt và dài hạn…
Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng do đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày tại Đại hội nêu rõ: Trong bối cảnh 'lửa thử vàng, gian nan thử sức', Đảng ta đã thể hiện bản lĩnh, năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu, tinh thần đoàn kết thống nhất; thể hiện ý chí, khát vọng phát triển, kiến tạo tương lai, tư duy đổi mới, hành động quyết liệt; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII với nhiều kết quả rất quan trọng, toàn diện, đột phá, nhiều điểm sáng nổi bật, cơ bản hoàn thành các mục tiêu chủ yếu đề ra.
Với mục tiêu tăng trưởng GDP cả nước năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên, Chính phủ yêu cầu các cấp, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo, điều hành với tinh thần 'chỉ bàn làm, không bàn lùi'.
Sau hành trình 40 năm đổi mới, chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam ngày càng được cải thiện. Về tổng thể, tính đến năm 2025, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm. Lạm phát, bội chi ngân sách nhà nước và các chỉ tiêu về nợ công được kiểm soát; thặng dư thương mại liên tục ở mức cao; thị trường trong nước phát triển mạnh. Các nguồn lực đầu tư phát triển được huy động và sử dụng hiệu quả hơn.
Chính phủ xác định 5 nhiệm vụ xuyên suốt và 12 nhóm giải pháp trọng tâm, tạo nền tảng điều hành thống nhất nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên năm 2026.
Tổng Bí thư nêu mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người năm 2030 đạt 8.500 USD/năm.
Nhiệm kỳ 2021-2025 ghi dấu một chặng đường phát triển quan trọng của đất nước. Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp, khó lường, vượt qua nhiều thách thức, kinh tế Việt Nam khẳng định sức chống chịu và duy trì đà tăng trưởng tích cực, tạo nền tảng vững chắc để bước vào giai đoạn phát triển mới với dư địa và động lực rộng mở hơn.
Chính phủ yêu cầu các cấp, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP cả nước năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu tái định vị các trụ cột tăng trưởng trở thành vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với nền kinh tế. Sau giai đoạn chịu nhiều cú sốc lớn từ bên ngoài, mô hình phát triển đang được đặt lại theo hướng tự chủ hơn, hiện đại hơn, gắn với chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng. Trên nền tảng đó, theo đánh giá của Thứ trưởng Bộ Công Thương Phan Thị Thắng, ngành Công Thương đang được xác lập là trụ cột nòng cốt, vừa giữ vai trò động lực tăng trưởng, vừa tạo nền tảng ổn định vĩ mô và không gian phát triển dài hạn cho nền kinh tế.
Cơ cấu kinh tế Việt Nam cũng ghi nhận sự chuyển dịch mạnh mẽ từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ sau 40 năm đổi mới. Hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội được cải thiện rõ rệt.