Tính đến giữa tháng 7 năm 2026, hệ thống ngân hàng đã nỗ lực cung ứng thêm cho nền kinh tế một lượng vốn khổng lồ lên tới 1,46 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, con số này vẫn còn khoảng cách rất xa so với nhu cầu đầu tư dự kiến khoảng 5,1 triệu tỷ đồng của toàn xã hội trong năm nay.
Trước nhu cầu vốn để tăng trưởng 2 con số, nếu chỉ trông chờ nguồn vốn từ kênh tín dụng trong nước là không đủ. Làm thế nào để phát huy các kênh huy động vốn dài hạn từ trong và ngoài nước là bài toán cần lời giải?.
Để duy trì tăng trưởng trên 10% trong nhiều năm, Việt Nam cần một cấu trúc dẫn vốn cân bằng hơn để cung ứng nguồn lực dài hạn cho nền kinh tế.
Thị trường vốn là yếu tố quan trọng để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP cao trong năm 2026 cũng như giai đoạn 2026 - 2030.
Nhu cầu vốn để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 - 2030 lên tới hàng chục triệu tỷ đồng, nhưng nền kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào tín dụng ngân hàng. Theo các chuyên gia, phát triển đồng bộ thị trường vốn là giải pháp then chốt để bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn, giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Để đáp ứng nhu cầu khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư trong giai đoạn 2026-2030, các chuyên gia cho rằng, Việt Nam cần tiếp tục phát triển đồng bộ thị trường vốn, mở rộng các kênh huy động trung và dài hạn, qua đó nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực cho nền kinh tế.
Kinh tế Việt Nam tăng trưởng hơn 8%, tín dụng đã được bơm thêm gần 1,46 triệu tỷ đồng chỉ trong hơn nửa đầu năm nay. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán lại diễn biến kém tích cực. Nghịch lý của nền kinh tế được các chuyên gia chỉ ra, là tăng trưởng vẫn dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng, trong khi thị trường vốn chưa đủ lớn để trở thành kênh dẫn vốn dài hạn.
Nhu cầu khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư trong giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu phải mở thêm các kênh huy động vốn mới, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số đặt ra yêu cầu huy động nguồn lực đầu tư ở quy mô rất lớn. Trong bối cảnh tín dụng ngân hàng vẫn là kênh cung ứng vốn chủ yếu và ngày càng chịu nhiều sức ép, phát triển đồng bộ thị trường vốn trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm tái cân bằng hệ thống tài chính, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và tạo động lực cho tăng trưởng bền vững.
Để duy trì mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong giai đoạn tới, Việt Nam cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư trong 5 năm. Khi dư địa tín dụng ngân hàng ngày càng thu hẹp, thị trường vốn được kỳ vọng trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết không chỉ nằm ở việc mở rộng quy mô thị trường mà còn là hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và khôi phục niềm tin của nhà đầu tư.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số đòi hỏi lượng vốn rất lớn, trong khi nền kinh tế vẫn phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng. Theo các chuyên gia, phát triển đồng bộ thị trường vốn là điều kiện quan trọng để đa dạng hóa nguồn lực, giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng và tạo nền tảng tăng trưởng bền vững.
Thị trường vốn được kỳ vọng trở thành kênh dẫn vốn trung, dài hạn chủ lực, giúp giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng.
Theo các chuyên gia, cần phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, để tạo kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế.
Để đáp ứng bài toán vốn dài hạn, Việt Nam cần nâng cao năng lực thực thi, phát triển các kênh dẫn vốn mới và đẩy nhanh vận hành Trung tâm tài chính tại Tp.HCM.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, Việt Nam cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư trong giai đoạn 2026-2030. Trong bối cảnh tín dụng ngân hàng đã ở mức cao, các chuyên gia cho rằng phát triển thị trường vốn là giải pháp quan trọng nhằm đa dạng hóa nguồn lực và đáp ứng nhu cầu vốn trung, dài hạn của nền kinh tế.
Theo tính toán của Bộ Tài chính, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 cần đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên cấu trúc cung ứng vốn của Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào các tổ chức tín dụng, trong khi đó, các kênh dẫn vốn khác vẫn còn nhiều dư địa phát triển.
Nhu cầu vốn cho hạ tầng, năng lượng ngày càng lớn, trong khi hệ thống ngân hàng chịu áp lực cung ứng vốn. Theo các chuyên gia, cần phát triển đồng bộ thị trường vốn để giảm phụ thuộc tín dụng và tạo nguồn lực tăng trưởng bền vững.
Nhu cầu vốn cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số đang tăng mạnh, trong khi dư địa mở rộng tín dụng ngân hàng ngày càng thu hẹp. Giải pháp then chốt để hình thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn bền vững cho nền kinh tế là phát triển đồng bộ thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán.
Theo TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia, mục tiêu tăng trưởng cao của Việt Nam đòi hỏi lượng vốn lớn, trong khi kênh tín dụng ngân hàng đã gần tới hạn về tỷ lệ đòn bẩy. Vì vậy, để phát triển thị trường tài chính cần dựa trên 3 nền tảng cốt lõi: Thể chế đáng tin cậy, thông tin và dữ liệu minh bạch, kỷ luật thị trường nghiêm minh.
Theo TS. Cấn Văn Lực, với tốc độ như hiện nay tỷ lệ tín dụng/GDP có thể lên tới 180% vào năm 2030, tín hiệu được xem là rất rủi ro. Vì vậy, giải pháp cần phải gia tăng sự đóng góp của thị trường chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, quỹ đầu tư) lên gấp 1,5 đến 1,7 lần, tức đóng góp khoảng 25 - 27% thì mới đảm bảo cân bằng và bền vững.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số và có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động vào năm 2030 đòi hỏi không chỉ mở rộng nguồn lực tài chính mà còn nâng khả năng tiếp nhận, sử dụng vốn. Khi phần lớn doanh nghiệp còn ở quy mô nhỏ, lợi nhuận mỏng, khó tìm kiếm khách hàng, công nghệ hạn chế, dòng vốn chỉ phát huy hiệu quả nếu đi cùng cải cách thể chế, phát triển thị trường vốn, dữ liệu và năng lực doanh nghiệp.
Theo lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước, thị trường cần phát triển thêm các kênh vốn trung và dài hạn như trái phiếu, REIT, M&A, đồng thời tháo gỡ pháp lý để dòng tiền vào đúng dự án.
Sự dịch chuyển này khiến ngành chứng khoán ngày càng giống một cuộc đua về năng lực quản trị vốn hơn là cuộc cạnh tranh về quy mô môi giới.
Trong bối cảnh huy động vốn tại các ngân hàng thương mại có xu hướng thấp hơn tăng trưởng tín dụng, tiềm ẩn rủi ro thanh khoản thì việc bổ sung thêm vốn cho nền kinh tế cần được chuyển dần sang kênh thị trường chứng khoán (TTCK). Để tạo thuận lợi trong huy động vốn trên sàn chứng khoán, cần thúc đẩy phát triển các sản phẩm mới, nâng cao chất lượng hàng hóa và mở rộng hơn nữa khả năng tiếp cận của doanh nghiệp đối với dòng vốn trong và ngoài nước.
Trong bối cảnh ngân hàng thương mại không còn dư dả vốn vay, cần giải pháp huy động vốn thay thế để kích hoạt các dự án lớn và thúc đẩy tăng trưởng hai con số.
Thị trường vốn, đặc biệt là cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp sẽ giữ vai trò trung tâm trong huy động nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.
Việt Nam đang bước vào chương trình đầu tư hạ tầng lớn nhất trong lịch sử với nhu cầu vốn lên tới gần 1.500 tỷ USD trong 5 năm tới.
Trong 6 tháng đầu năm, giải ngân vốn đầu tư công mới đạt trên 35%, áp lực lên hệ thống tín dụng là rất lớn bởi thị trường vốn chưa thực sự phát triển.
Các chuyên gia cho rằng tái cấu trúc thị trường vốn, phát triển mạnh kênh huy động vốn trung và dài hạn là yêu cầu cấp thiết để đáp ứng nhu cầu vốn cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai chữ số và phát triển bền vững...
Nhu cầu vốn giai đoạn 2026-2030 lên tới khoảng 38 triệu tỷ đồng, trong khi ngân sách chỉ đáp ứng khoảng 20%, đặt ra yêu cầu tái cấu trúc các kênh dẫn vốn.
Mặc dù chiếm gần 98% số doanh nghiệp đang hoạt động, nhưng khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chỉ chiếm 20% tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế, vẫn đang đối mặt với bài toán thiếu vốn kéo dài.
Để đạt tốc độ tăng trưởng hai con số, Việt Nam không chỉ phải giải quyết bài toán về năng lực sản xuất hay cải cách thể chế, mà còn phải tìm cách huy động và phân bổ nguồn lực tài chính với quy mô chưa từng có….
Theo các chuyên gia của SSI, câu hỏi không còn là Việt Nam có thể tăng trưởng nhanh hơn hay không mà là những nguồn lực hiện có đã được đưa vào nền kinh tế đúng tốc độ hay chưa.
Trong bối cảnh nhu cầu đầu tư hạ tầng ngày càng lớn và nguồn lực công có hạn, việc huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội trở thành yêu cầu cấp thiết. Mô hình PPP++ hướng tới mục tiêu kết nối nguồn lực, chia sẻ trách nhiệm và nâng cao hiệu quả đầu tư.
Trong nhiều năm qua, hệ thống ngân hàng đã đảm nhận phần lớn chức năng dẫn vốn của nền kinh tế. Khi thị trường vốn còn non trẻ, các định chế đầu tư dài hạn chưa hình thành đầy đủ, quỹ hưu trí còn nhỏ, bảo hiểm chưa đủ lớn, còn thị trường trái phiếu doanh nghiệp nhiều giai đoạn vận hành thiếu ổn định, thì bảng cân đối của ngân hàng trở thành nơi hội tụ tự nhiên của rất nhiều nhu cầu vốn khác nhau.Nhìn một cách công bằng, đó là một thành công đáng kể. Không nhiều nền kinh tế có thể duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài nếu thiếu một hệ thống trung gian tài chính đủ năng lực để huy động tiết kiệm và phân bổ lại ở quy mô lớn. Nhưng cũng chính tại điểm mà một mô hình đã vận hành hiệu quả trong thời gian dài, các giới hạn cấu trúc của nó bắt đầu hiện ra rõ hơn.
Việt Nam đang thiếu một định chế tài chính có khả năng tham gia huy động, tập trung và dẫn dắt các nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế.
Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm giai đoạn 2026 - 2030 đang đặt ra nhu cầu vốn rất lớn cho đầu tư phát triển. Trong bối cảnh đó, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, đặc biệt là trái phiếu hạ tầng PPP, được định hướng trở thành kênh dẫn vốn dài hạn quan trọng cho nền kinh tế.
Đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Theo đó, Nghị quyết Đại hội 14 của Đảng đặt mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân cho giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD/năm. Hệ thống ngân hàng Việt Nam vì thế cũng đang bước vào một giai đoạn phát triển mới.
Tín dụng ngân hàng, cổ phiếu và trái phiếu đang cùng vận động theo hướng bổ trợ lẫn nhau, tạo nền tảng cho một cấu trúc tài chính cân bằng hơn và một chu kỳ tăng trưởng bền vững hơn của nền kinh tế.
Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10% mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030. Để hiện thực hóa điều này, điểm nghẽn thể chế phải được tháo gỡ, thị trường vốn phải phát triển cân bằng hơn, còn doanh nghiệp cần môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và có thể dự báo.
Bài toán của Việt Nam sẽ không chỉ là thu hút thêm bao nhiêu vốn đầu tư mà là làm sao để mỗi đồng vốn tạo ra nhiều giá trị hơn cho nền kinh tế.
Phát triển thị trường vốn sâu rộng, minh bạch và ổn định đang trở thành điều kiện quan trọng để khai mở dư địa cho tăng trưởng cao trong trung và dài hạn.