Không đánh đổi môi trường cạnh tranh
Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10) là dịp ghi nhận những người đang trực tiếp tạo ra của cải, việc làm và động lực đổi mới cho đất nước. Trong nền kinh tế đã hội nhập sâu, doanh nghiệp không chỉ là nơi tổ chức sản xuất, kinh doanh mà còn là một trong những lực lượng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia.

Kiểm tra, theo dõi tình trạng thiết bị tại Trạm biến áp 220 kV Rạch Giá, tỉnh An Giang. (Ảnh: MINH HẠNH)
Việt Nam cần những doanh nghiệp lớn, có khả năng đầu tư dài hạn, làm chủ công nghệ, xây dựng thương hiệu và vươn ra thị trường khu vực, thế giới. Nhưng câu hỏi đặt ra không chỉ là làm sao có thêm doanh nghiệp lớn, mà quan trọng hơn là doanh nghiệp lớn lên bằng con đường nào, sự lớn mạnh ấy có đóng góp cho nền kinh tế hiệu quả hơn?

Trong nhiều ngành, quy mô là điều kiện để cạnh tranh. Công nghiệp chế biến, chế tạo, năng lượng, hạ tầng, logistics, công nghệ số và nghiên cứu phát triển đều đòi hỏi nguồn vốn lớn, thời gian đầu tư dài và năng lực quản trị phức tạp. Quy mô còn tạo điều kiện để doanh nghiệp nâng cao năng suất. Khi sản lượng tăng, doanh nghiệp có thể phân bổ chi phí cố định trên nhiều đơn vị sản phẩm, chuyên môn hóa quy trình, đào tạo nhân lực và đầu tư cho nghiên cứu.
Một doanh nghiệp đầu đàn có năng lực có thể kéo theo mạng lưới nhà cung cấp trong nước, tạo thị trường cho doanh nghiệp phụ trợ và đưa tiêu chuẩn sản xuất, quản trị lan rộng trong cả chuỗi giá trị. Vì vậy, chủ trương khuyến khích hình thành những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh quốc tế là phù hợp yêu cầu phát triển. Vấn đề không nằm ở việc doanh nghiệp lớn hay nhỏ, mà ở chất lượng của sự lớn mạnh ấy. Doanh nghiệp lớn có thể là kết quả của tích lũy vốn, đổi mới công nghệ, quản trị tốt và chấp nhận cạnh tranh. Nhưng quy mô cũng có thể được tạo dựng hoặc duy trì nhờ quyền tiếp cận các ưu đãi mà doanh nghiệp khác không có.

Hai con đường ấy tạo ra hai kết quả rất khác nhau. Con đường thứ nhất nâng cao năng lực sản xuất và mở rộng giá trị cho nền kinh tế. Con đường thứ hai tạo ra lợi thế dựa trên vị thế, làm suy yếu động lực đổi mới và khiến nguồn lực xã hội không đến được nơi sử dụng hiệu quả nhất. Chính sách phát triển doanh nghiệp lớn vì thế phải luôn đi cùng chính sách bảo vệ cạnh tranh lành mạnh.
Tích tụ quy mô là một quy luật kinh tế bình thường. Doanh nghiệp có thể tăng trưởng bằng đầu tư, sáp nhập, đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường hoặc tổ chức lại sản xuất. Quy mô lớn tự thân không đồng nghĩa với độc quyền. Ranh giới cần được nhận diện khi vị thế thị trường được sử dụng để ngăn cản cạnh tranh. Đó có thể là hành vi áp đặt điều kiện bất lợi cho nhà cung cấp, phân biệt đối xử với đối tác, bán dưới giá thành nhằm loại đối thủ rồi tăng giá khi thị trường đã bị thu hẹp...
Trong nền kinh tế số, nguy cơ còn nằm ở khả năng kiểm soát dữ liệu, nền tảng và các tiêu chuẩn kết nối, khiến người dùng và doanh nghiệp khó chuyển sang dịch vụ khác. Độc quyền không chỉ thể hiện ở mức giá cao. Nó còn có thể làm giảm lựa chọn của người tiêu dùng, hạn chế cơ hội gia nhập thị trường và làm chậm đổi mới. Khi một doanh nghiệp không còn chịu sức ép đáng kể từ đối thủ, động lực cải thiện chất lượng và giảm chi phí cũng suy yếu. Thiệt hại khi ấy không chỉ thuộc về một doanh nghiệp bị loại khỏi thị trường, mà lan sang người tiêu dùng, người lao động và toàn bộ nền kinh tế.
Bởi vậy, đánh giá sức mạnh thị trường không thể chỉ nhìn vào quy mô hay thị phần tại một thời điểm. Đây cũng là lý do chống độc quyền không đồng nghĩa với chống doanh nghiệp lớn. Mục tiêu của chính sách cạnh tranh không phải chia nhỏ mọi doanh nghiệp thành những đơn vị nhỏ, mà là ngăn quyền lực thị trường bị sử dụng để gây khó khăn cho doanh nghiệp khác và hạn chế lựa chọn. Một doanh nghiệp lớn vẫn có thể là động lực phát triển nếu phải cạnh tranh bằng năng suất, công nghệ và chất lượng. Ngược lại, một doanh nghiệp chưa quá lớn vẫn có thể gây tổn hại cho thị trường, nếu được bảo vệ khỏi cạnh tranh bằng những lợi thế không chính đáng.

Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, nhất là ở những lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược, đòi hỏi vốn lớn, công nghệ cao hoặc thời gian thu hồi dài. Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực, hạ tầng dùng chung, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh có thể giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực mà thị trường tự thân chưa tạo đủ động lực.
Tuy nhiên, hỗ trợ doanh nghiệp đầu đàn cần được phân biệt rõ với ưu ái. Hỗ trợ đúng nghĩa phải giải quyết một trở ngại có thật của nền kinh tế, tạo ra năng lực mới và đem lại lợi ích lan tỏa. Cần nhìn nhận đúng vai trò của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân. Mỗi khu vực có những thế mạnh và trách nhiệm riêng, nhưng nguyên tắc tiếp cận cơ hội kinh doanh cần minh bạch. Một môi trường kinh doanh công bằng không có nghĩa mọi doanh nghiệp nhận hỗ trợ như nhau; điều đó có nghĩa tiêu chí hỗ trợ phải rõ ràng, có thể kiểm chứng và không tùy thuộc vào danh tính doanh nghiệp.
Chính sách cạnh tranh cũng cần được tính đến từ khâu thiết kế chính sách. Một quy định cấp phép, tiêu chuẩn kỹ thuật hay điều kiện kinh doanh có thể vô tình tạo rào cản đối với doanh nghiệp mới, nếu vượt quá yêu cầu cần thiết. Một chính sách ưu đãi đầu tư có thể ảnh hưởng đến cạnh tranh, nếu chỉ có một nhóm doanh nghiệp tiếp cận được. Vì thế, đánh giá tác động cạnh tranh cần trở thành một phần thực chất của quá trình xây dựng và thực thi chính sách.
Thực thi là nơi quyết định một chủ trương tốt có trở thành kết quả tốt hay không. Luật pháp có thể quy định tương đối đầy đủ, nhưng nếu cơ quan thực thi thiếu năng lực phát hiện hành vi hạn chế cạnh tranh, xử lý chậm hoặc áp dụng không nhất quán, thị trường vẫn có thể bị chi phối bởi những thỏa thuận và lợi thế khó nhìn thấy. Ngược lại, nếu quy định thiếu rõ ràng hoặc thực thi tùy tiện, doanh nghiệp sẽ đối mặt với rủi ro chính sách và giảm động lực đầu tư dài hạn.
Cơ quan quản lý cạnh tranh cần có năng lực phân tích dữ liệu thị trường, đánh giá các thương vụ tập trung kinh tế và phát hiện hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh. Trong những thị trường mới, đặc biệt là thị trường nền tảng số, cần theo dõi các hình thức kiểm soát dữ liệu, tự ưu tiên dịch vụ và khóa người dùng. Việc thực thi phải dựa trên bằng chứng, quy trình minh bạch và khả năng giải trình, đồng thời bảo đảm doanh nghiệp có cơ hội phản hồi và khiếu nại theo quy định. Doanh nghiệp cần được nhìn nhận như một chủ thể có trách nhiệm với thị trường. Thành công không chỉ được đo bằng doanh thu, vốn hóa hay quy mô tài sản, mà còn bằng năng lực đổi mới, chất lượng việc làm, đóng góp cho ngân sách, mức độ tuân thủ pháp luật và khả năng tạo cơ hội cho các doanh nghiệp khác cùng phát triển.
Ngày Doanh nhân Việt Nam là dịp tôn vinh tinh thần dấn thân và khát vọng làm giàu chính đáng. Tôn vinh doanh nhân cần đi cùng việc bảo vệ những nguyên tắc làm nên một nền kinh tế năng động: Quyền kinh doanh hợp pháp, cạnh tranh bình đẳng, phân bổ nguồn lực minh bạch và trách nhiệm giải trình. Có nhiều doanh nghiệp lớn là điều đất nước cần, nhưng giá trị của họ phải được chứng minh bằng năng lực tạo ra sản phẩm, công nghệ, việc làm và giá trị mới.

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/khong-danh-doi-moi-truong-canh-tranh-post996067.html
