Mẹ Doãn và 10 “dải hoa” làng biển

Lài, Hoa, Quế, Huệ, Mai, Đào, Quý, Trọng, Tài, Liễu - mười người con của bà Nguyễn Thị Doãn tựa như mười dải hoa tỏa sắc giữa quê biển Hải Bình nghèo khó năm xưa. Với tầm nhìn về việc học, ở thời điểm nhiều gia đình còn trông vào con trai nối nghề biển, người mẹ Cố Lài đã chắt chiu mồ hôi, vun vén để các con có thêm những con đường lập thân. Để rồi hôm nay, trong căn nhà nhiều thế hệ quây quần, nếp sống ấy vẫn được tiếp nối qua từng hành động nhỏ của cháu con.

Bà Nguyễn Thị Doãn (sinh năm 1935), ở tổ dân phố Tiền Phong, phường Hải Bình bên 10 người con.

Bà Nguyễn Thị Doãn (sinh năm 1935), ở tổ dân phố Tiền Phong, phường Hải Bình bên 10 người con.

Những năm tháng bên ruộng muối

Người ta thường nhớ về làng biển Hải Bình qua những chuyến tàu vươn khơi, hay qua những vạt ô nại, ruộng muối năm xưa. Còn tôi, khi nhắc đến vùng đất này, trong đầu lại hiện lên hình ảnh một trưa mùa thu ở nhà bà Nguyễn Thị Doãn, sinh năm 1935, phường Hải Bình - người làng biển vẫn quen gọi bằng cái tên chân chất: bà Cố Lài. Trong căn nhà ấy, mấy người con gái đã lên chức bà vẫn quây quần trò chuyện, rót nước cho người mẹ già ngoài chín mươi; hai đứa trẻ sáu tuổi, còn nguyên bộ đồng phục trên người, đang phơi quần áo trước khi ăn cơm. Người cháu dâu lo bữa trưa. Việc ai người ấy làm, người nhỏ góp việc nhỏ, tùy theo sức của mình.

Để có được buổi trưa bình yên ấy, bà Cố Lài đã đi qua những năm tháng mà mỗi bước trưởng thành của con đều phải đổi bằng sự chắt chiu của mẹ. Cách đây hơn nửa thế kỷ, nghề biển vượng lắm. Nơi bãi bến này, người ta khao khát đẻ thật nhiều con trai để có sức vóc vươn khơi, đè sóng; nhà nào sở hữu vài tay chèo như thế là nghiễm nhiên có của ăn của để. Những đứa trẻ thời ấy ra đời như từng mắt lưới, lớn lên đã cuốn ngay vào cuộc mưu sinh: trai gạt sóng ra khơi, gái ở bờ đan lưới, làm muối. Chuyện học hành vì thế chẳng mấy ai bận lòng. Thế nhưng, ngay từ dạo đó, vợ chồng bà Doãn đã giữ một lựa chọn khác: cố gắng cho con đến trường. Theo lời kể của các con, từ khi người cha còn sống, gia đình đã nhất quán quan điểm này. Bố mẹ thường dạy rằng: “Sóng nước chỉ nuôi sống mâm cơm trước mắt; cha mẹ muốn con chữ mở thêm những lối đi cho cuộc đời dài rộng về sau”.

Bà nhớ những năm giữa thập niên 1970, cuộc sống khó khăn đến mức có thời gian bữa ăn chỉ toàn dựa vào khoai, sắn. Những đêm mùa đông rét mướt, mẹ trải bao tải, dạt rơm trên nền đất làm chỗ ngủ ấm cho mười đứa con. Ngày ấy thiếu xà phòng, quần áo các con phải giặt bằng tro bếp bên bờ sông, bờ đình làm da tay mẹ cào rát nứt nẻ. Dù thiếu thốn trăm bề, đường học của mười đứa trẻ vẫn được giữ vững qua từng lần chuyển cấp, từng chặng đường xa.

Sóng gió ập đến khi người chồng qua đời năm 1975. Bà Doãn một mình gánh việc nuôi một đàn con, với những chặng đường học hành dài rộng vẫn còn ở phía trước. Nghề làm muối vốn lấy mồ hôi đổi lấy hạt mặn chẳng đủ gánh vác cơm áo. Để giữ đường học cho con giữa những năm tháng bao cấp thiếu thốn, người phụ nữ Hải Bình ấy phải xoay xở đủ mọi cách mưu sinh, từ nghề muối cho đến những chuyến buôn xa ngược xuôi.

Để những đứa em được bước tiếp, bà Lê Thị Hoa, người con gái thứ hai đã gác lại sách vở khi đang học lớp 7 để ở nhà cùng mẹ kiếm sống, chèo chống nuôi các em. Giữa buổi trưa hôm nay, ngồi cạnh người mẹ ngoài chín mươi tuổi, bà cùng em gái là bà Lê Thị Huệ nhắc lại chuyện cũ. Bà Huệ học xong lớp 10 (hệ 10 năm) thì vào bộ đội, sau đó học dược và làm việc trong ngành y. Khi được hỏi, bà Doãn thừa nhận người con gái thứ hai chịu phần thiệt thòi. Lời thừa nhận ấy khiến câu chuyện nuôi con ăn học lắng lại.

Lời mẹ qua từng thế hệ

Qua lời kể của bà Hoa, bà Huệ, mẹ Doãn giữ nếp nhà bằng sự nghiêm cẩn và tình thương của một người mẹ quê. Từ ngày các con còn nhỏ, cha mẹ đã uốn nắn từng lời ăn tiếng nói: gặp người lớn phải chào hỏi, cư xử lễ phép; nhận hay đưa vật gì cho người lớn phải bằng hai tay. Đồ đạc trong nhà dùng xong phải đặt lại đúng chỗ. Nhà cửa, quần áo cần sạch sẽ, gọn gàng. Nhặt được của rơi phải tìm người trả lại. Những lời dạy tưởng nhỏ ấy theo các con đến lúc trưởng thành. Bà Hoa, bà Huệ nay đã lên chức bà, lại đem điều cha mẹ dạy truyền cho con cháu. Một món đồ được trả về chỗ cũ, một lời chào, một việc làm thật thà - nếp nhà được giữ trong cách ứng xử thường ngày, qua sự nhắc nhở và làm gương của người lớn.

Dù đã ở tuổi ngoài chín mươi, mẹ Doãn vẫn quan tâm đến cách con cháu nuôi dạy trẻ. Bà nhắc thời nay điều kiện ăn uống tốt hơn, trẻ có điện thoại và nhiều lựa chọn hơn thời các con bà ngày trước. Còn trong ký ức của bà, đến giờ học là phải học. Đời sống đã đổi khác, nhưng chuyện học hành và giờ giấc vẫn là điều người mẹ già để tâm.

Đến nay, nhiều người con của bà Doãn đã làm ông, làm bà. Người công tác trong cơ quan Nhà nước, người mở công ty, người kinh doanh, mỗi người một công việc, một nơi sinh sống, nhưng vẫn hỏi ý kiến mẹ khi có việc trong gia đình. Anh em giữ sự gắn bó, hỗ trợ nhau trong cuộc sống và cùng chăm lo cho mẹ. Những dịp giỗ, tết, con cháu lại thu xếp trở về sum họp. Trong cuộc trò chuyện hôm ấy, mọi người cùng ngồi nhẩm đếm: tính cả dâu, rể, bà có 20 người con, 23 cháu và 26 chắt. Nhắc đến người này lại nhớ thêm người khác, những cái tên nối nhau trong lời kể như những nhánh cây cùng lớn lên từ một gốc.

Hỏi mẹ Doãn về bí quyết giữ cho các con cùng hàng chục cháu chắt biết trên biết dưới, sống thuận hòa, bà nhiều lần nói mình... chẳng có bí quyết gì. Bà nhắc việc dạy con tránh cãi vã, đánh nhau, anh chị bảo ban các em, có khúc mắc thì chia sẻ, cùng lo làm ăn. Trong cách kể mộc mạc ấy, điều người mẹ mong vẫn là con cháu sống thật thà, biết đùm bọc nhau. Lời dạy ấy có dấu vết trong những chuyến buôn xa của mẹ, trong phần đời người chị thứ hai ở lại phụ mẹ nuôi em, và trong cách người lớn hôm nay làm gương cho trẻ nhỏ. Sự san sẻ đã giúp gia đình đi qua những năm khó khăn, rồi tiếp tục trong việc chăm mẹ, lo bữa ăn, thu xếp sum họp.

Chiều Hải Bình, gió từ phía cửa biển thổi vào mang theo vị mặn quen thuộc của bãi muối năm xưa. Trong căn nhà ấm cúng, người mẹ từng một đời nhọc nhằn trên ô nại nay tĩnh lặng nhìn con cháu xúm xít quanh mâm cơm sum họp. Bóng mẹ không chỉ ngả xuống mái nhà gạch bình yên, mà đã thấm vào lời ăn tiếng nói, vào cách ứng xử tử tế, ngăn nắp của “mười nhánh cây đời” do chính tay mẹ vun trồng - và hiện lên vẹn nguyên trong từng phần việc nhỏ của hai đứa trẻ lên sáu.

Ghi chép Tăng Thúy

Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/me-doan-va-10-dai-hoa-lang-bien-305783.htm