Rủ nhau đi bắt cá đồng
Có những mùa đi qua đời người mà dư vị vẫn còn nguyên như mùi bùn non, mùi rơm rạ và vị ngọt của con cá đồng nướng trui. Ở miền Tây, chuyện rủ nhau đi bắt cá không đơn thuần là kiếm thêm thức ăn cho bữa cơm chiều, mà còn là cuộc hẹn với ruộng đồng, với tình làng nghĩa xóm và những tháng ngày sống chan hòa cùng thiên nhiên. Dẫu đồng đất hôm nay đã đổi thay, ký ức về những mùa cá vẫn dập dềnh trong lòng người như con nước quê nhà.
Cuộc hẹn với ruộng đồng
"Bữa nào nước rút, rủ nhau đi bắt cá đồng nghen", chú Năm Hiền vừa nói vừa nhìn ra cánh đồng sau nhà, nơi những thửa ruộng sau mùa gặt đang đón con nước tràn qua. Má Bảy ngồi lựa rau ngoài hiên ngẩng đầu cười. Dì Tư bên kia hàng rào cũng vọng sang, giọng lanh lảnh: "Nhớ kêu tui với nghen, để tui kiếm cái nơm, chớ mấy ông đi trước rồi bắt hết cá của tui". Vậy là cả xóm rộn ràng, người chuẩn bị dụng cụ, người lo cơm nước, người tính đường ra đồng. Ở quê, có những cuộc hẹn chẳng cần ghi ngày tháng, chỉ cần con nước về là lòng người tự khắc tìm đến nhau.
Mùa nước nổi, đồng ruộng như khoác chiếc áo mới. Bờ lúa vừa gặt còn trơ gốc rạ, lối đi quen thuộc chìm dưới làn nước đục phù sa. Nước từ sông lớn theo kênh rạch len vào ruộng, mang theo tôm tép và bao loài cá trú ngụ suốt những tháng đồng khô. Cá lóc, cá rô, cá trê, cá sặc, cá linh... góp phần làm nên sự phong phú của đồng quê mỗi khi con nước trở mình. Người lớn nhìn mặt nước, ngửi mùi gió, ngó màu mây mà đoán chuyện đồng sâu, đồng cạn. Còn lũ nhỏ chúng tôi chỉ cần nghe câu "cá nhiều lắm" là chân đã muốn chạy ra bờ ruộng.

Dùng xuồng đi bắt cá đồng
Đi bắt cá đồng phải có bạn. Cái thú nằm ở tiếng gọi nhau giữa đồng, ở chuyện người này chỉ người kia vũng nước có cá, ở lúc cả nhóm cùng xúm lại trước một cái hang vừa phát hiện. Chú Năm Hiền rành đồng nhất xóm, từ lối đi trên bờ mẫu đến những đường nước len giữa đám cỏ năng, cỏ lác. Chú cầm sào dò đường, lâu lâu dừng lại nhìn vệt bùn hoặc dấu nước đọng rồi quả quyết: "Chỗ này có cá nghen bà con!". Dì Tư nghe vậy cứ cười, bảo chú đừng đoán mò, nhưng tay đã cầm sẵn cái rổ, mắt chăm chăm nhìn theo hướng chú chỉ.
Má Bảy không nhanh chân như đám thanh niên, nhưng kinh nghiệm của bà khiến ai cũng nể. Bà biết chỗ nào nước đọng lâu, bờ cỏ nào cá tìm về trú ẩn. Có lần, chú Năm Hiền hăng hái quậy một vũng nước đục hồi lâu chẳng được con nào, trong khi má Bảy nhẹ nhàng lần theo chân cỏ đã bắt được mấy con cá rô mập ú. Bà cười móm mém: "Bắt cá cũng như làm ăn, phải hiểu cái đất, cái nước rồi mới tính chuyện được, chớ cứ hùng hục mà làm thì có khi tay không về nhà”.
Em Lài, con nhỏ nhà kế bên, háo hức nhất mỗi lần nghe rủ đi bắt cá. Nó có nước da rám nắng, đôi mắt sáng, thường mang theo cái thau nhôm cũ móp một bên. Lài thích bắt cá rô, bởi mỗi lần cá quẫy trong thau nó lại reo lên như vừa nhận được món quà quý. Chú Năm thương con nhỏ, thường lựa cá vừa tay bỏ vào thau cho nó. Dì Tư thì nhắc phải coi chừng gai cá trê, kẻo bị đâm đau rồi khóc nhè giữa đồng.
Buổi sáng ra đồng, sương còn đọng trên ngọn cỏ. Bước chân đi qua làm giọt nước rung rinh rồi rơi xuống nền đất mềm. Mùi rạ mục, mùi bùn non, mùi cỏ dại quyện vào nhau thành hương đồng quê khó lẫn. Xa xa, mấy cánh cò trắng chậm rãi bay qua. Chúng tôi đi thành từng nhóm, người cầm nơm, người xách giỏ, người mang lờ. Có khi chưa bắt được con cá nào mà cả đám đã cười vang vì một chuyện vu vơ. Bởi niềm vui nhiều khi nằm trên đường đi, chứ chưa cần đợi đến lúc có cá trong giỏ.

Mùa lũ về, các chợ cá họp chợ từ rất sớm
Tùy con nước và địa hình mà người ta chọn cách bắt cá. Chỗ sâu thì đặt lờ, đặt lọp; chỗ cạn thì dùng nơm hoặc lội mò quanh bụi cỏ. Người lớn luôn dặn con cháu đừng phá bờ, đừng bắt cá non, đừng tận diệt những gì đồng ruộng ban tặng. Ngày ấy, người quê chưa nói nhiều về cân bằng sinh thái, nhưng đã biết chừng mực, biết lấy của thiên nhiên mà vẫn chừa đường sống cho mùa sau.
Một lần, chúng tôi phát hiện vũng nước nằm sâu giữa đám cỏ lác, chung quanh có dấu chân nhỏ và vệt bùn mới trồi lên. Chú Năm đoán bên dưới có cá lóc trú, bèn rủ mọi người tìm cách bắt. Đám nhỏ đứng trên bờ nôn nóng dõi theo, dì Tư liên tục nhắc đừng khuấy nước mạnh. Một hồi lâu, mặt nước bỗng động đậy. Con cá lóc lớn bất ngờ phóng lên, quẫy mạnh khiến chú Năm suýt trượt chân. Cả đám cười vang, người chạy tới, người lùi lại, cuối cùng con cá nằm gọn trong chiếc giỏ tre.
Tình người và mùa nhớ
Những buổi đi bắt cá thường kết thúc bằng bữa ăn chung. Người có cá góp cá, người có rau góp rau, nhà nào có trái bần, trái me, ít ớt hiểm thì mang ra nấu nồi canh chua. Má Bảy thoăn thoắt làm cá, rửa rau, nhóm lửa; dì Tư lựa mấy con cá rô mập để chiên giòn, còn chú Năm Hiền nhận phần nướng cá lóc. Chú xiên cá bằng nhánh tre, chất rơm khô quanh mình cá rồi châm lửa. Khói rơm bốc lên, quyện với mùi cá chín khiến người đi đồng về dù mệt đến đâu cũng thấy bụng réo lên.
Cá lóc nướng trui là món ăn mỗi lần nhắc đến, tôi lại nhớ những buổi trưa quê nhà. Khi lớp vảy cháy sém được cạo đi, phần thịt cá trắng phau, nóng hổi hiện ra. Má Bảy trải lá chuối giữa mâm, đặt cá bên rổ rau đồng, chén muối ớt và ít nước mắm me chua ngọt. Mọi người ngồi sát bên nhau, gỡ từng miếng thịt cá cuốn với rau rồi chấm nước mắm, vừa ăn vừa kể chuyện đồng sâu, mùa lũ, chuyện nhà này nhà kia. Món ăn dân dã ấy chẳng đáng bao nhiêu tiền nhưng hương vị ngày xưa còn có khói rơm, lá chuối, rau vườn và tiếng cười thân thuộc.
Má Bảy thường nói cá đồng ngon vì lớn lên giữa đất trời. Bà không thích người ta làm cạn vũng nước hay dùng cách bắt cá hủy hoại môi trường sống. Bà dặn đám nhỏ đừng bắt cá non, đừng phá hang, đừng xả rác xuống mương. Yêu đồng đất không chỉ là nhớ những gì đã có, mà còn phải biết giữ gìn những gì đang còn.
Qua câu chuyện bên bờ ruộng, người ta biết nhà nọ đang thiếu gạo, nhà kia có người bệnh, đứa nhỏ trong xóm sắp đến ngày nhập học. Chú Năm Hiền từng đem cá chia cho một gia đình vừa trải qua trận bệnh. Dì Tư lựa mấy con cá rô lớn, dặn mang về nấu cháo cho người già. Má Bảy bảo tôi xách thêm ít rau vườn đem qua hàng xóm. Chút cá, mớ rau là tấm lòng người quê dành cho nhau, giúp người ta dựa vào nhau qua những mùa mưa nắng.

Nước trên đồng bắt đầu rút, người dân bắt được rất nhiều cá
Em Lài lớn lên cùng những buổi đi bắt cá ấy. Từ con nhỏ lẽo đẽo theo người lớn, Lài dần biết nhìn dòng nước, nhận ra dấu cá quẫy, phân biệt cá rô với cá sặc. Có lần, nó bắt được con cá lóc đầu tiên, mừng đến nỗi chạy một mạch về khoe má Bảy. Bà cười, vuốt mái tóc rối của nó, bảo con cá nhỏ nhưng niềm vui thì lớn. Tôi chợt hiểu đồng quê cũng là một mái trường. Nơi ấy, trẻ nhỏ học cách kiên nhẫn chờ cá vào lờ, biết chia phần cho bạn và thả con cá nhỏ về với nước.
Rồi những mùa nước nối nhau đi qua. Lũ trẻ lớn lên, người đi học xa, người lập gia đình. Lài cũng rời quê một thời gian. Chú Năm Hiền tóc bạc dần, bước chân không còn nhanh nhẹn. Dì Tư vẫn ngồi trước hiên mỗi buổi chiều, lâu lâu lại nhắc chuyện con cá lóc lớn suýt làm chú Năm té xuống mương, chuyện bữa cơm có nồi canh chua nóng hổi mà ai cũng xin thêm chén nữa. Má Bảy nghe chuyện thường cười, nhưng đôi mắt đã xa xăm như đang nhìn một cánh đồng khuất sau lớp sương thời gian.
Đồng ruộng hôm nay đã khác xưa. Bờ vùng, bờ thửa được chỉnh trang, đường đi thuận tiện hơn, máy móc thay sức người trong nhiều công đoạn. Nhưng sau mùa gặt, nước đã về mà bóng cá chẳng còn nhiều như trước. Nguồn cá tự nhiên phụ thuộc vào con nước, môi trường sống và cách con người khai thác. Muốn mùa cá còn trở lại, cần giữ mương nước, bờ cỏ, bảo vệ nguồn lợi thủy sản và tránh khai thác tận diệt. Giữ được cá đồng cũng là giữ lại một phần ký ức làng quê cho con cháu mai sau.
Tôi trở về quê vào một buổi chiều cuối mùa nước nổi. Gió từ cánh đồng thổi lên mát rượi, mang theo mùi rạ mục và hương đất ẩm quen thuộc. Chú Năm Hiền ngồi trước hiên, chiếc nơm tre cũ dựng bên vách; má Bảy đang nhặt rau chuẩn bị bữa cơm chiều. Dì Tư từ ngoài ngõ bước vào, vừa đi vừa hỏi hôm nào rảnh thì rủ nhau ra đồng một chuyến, coi còn bắt được ít cá rô nào không.
Câu nói ấy làm tôi nhớ những buổi sáng xa xưa, tiếng chân lội bì bõm, tiếng gọi nhau giữa đồng, cái thau nhôm móp một bên của em Lài và nụ cười hiền hậu của những người đã cùng tôi đi qua tuổi thơ. Tôi mong con cháu một ngày nào đó lại rủ nhau đi bắt cá đồng, thấy những vũng nước trong lành, bờ cỏ có cá trú ngụ và được người lớn chỉ cách sống hòa thuận với thiên nhiên. Mong chúng biết vui khi bắt được cá rô, quý bữa cơm cá đồng nướng trui và biết chia phần cho người bên cạnh. Bởi đồng ruộng không chỉ làm ra hạt lúa bán ngoài chợ, mà còn lưu giữ ký ức, dạy con người biết nhẫn nại, biết đủ và biết thương nhau. Những giá trị ấy chẳng thể cân đong bằng ký lúa hay tính thành tiền trong một vụ mùa, nhưng góp phần làm nên hồn cốt miền đất phương Nam.
Chiều xuống, gió lùa qua hàng tre sau nhà, đâu đó vọng lại tiếng người gọi nhau ngoài bờ ruộng. Tôi muốn xắn quần bước xuống con mương nhỏ, nhìn mặt nước lay động dưới ánh hoàng hôn, nghe Chú Năm Hiền cười khà khà khi phát hiện một vũng cá. Muốn ngồi bên má Bảy, nghe dì Tư kể chuyện xưa, rồi cùng em Lài nhóm bếp nướng mấy con cá vừa bắt được, để khói rơm bay lên thơm cả một khoảng trời quê.
Nguồn CA TP.HCM: http://congan.com.vn/doi-song/nhip-song/ru-nhau-di-bat-ca-dong_198947.html
