Thị trường lúa gạo ngày 22/1 ghi nhận sự tăng nhẹ của các mặt hàng gạo nguyên liệu xuất khẩu như OM 5451 và OM 380, trong khi giá lúa tươi và gạo lẻ vẫn giữ mức ổn định.
Thị trường lúa gạo ngày 22/1 ghi nhận sự điều chỉnh tăng giá tại nhóm gạo nguyên liệu xuất khẩu, trong khi giá lúa tươi và thị trường bán lẻ duy trì đà đi ngang ổn định.
Phiên giao dịch ngày 22/1/2026 chứng kiến sự sôi động trở lại ở phân khúc gạo nguyên liệu. Nhu cầu trả hàng cho các hợp đồng xuất khẩu đã đẩy giá gạo nguyên liệu tăng nhẹ, trong khi thị trường lúa tươi vẫn giữ nhịp độ ổn định.
Thị trường lúa gạo ngày 22/1 ghi nhận sự điều chỉnh tăng nhẹ ở một số loại gạo nguyên liệu xuất khẩu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Trong khi đó, giá lúa tươi và giá gạo bán lẻ tại các chợ dân sinh vẫn duy trì ở mức ổn định với khối lượng giao dịch chậm.
Giá lúa gạo hôm nay 21/1/2026 duy trì đà ổn định sau phiên tăng nhẹ. Đáng chú ý, mặt hàng Nếp Long An và Nếp An Giang bắt đầu nhích giá do nhu cầu gom hàng phục vụ Tết tăng cao.
Thị trường lúa gạo ngày 20/1 ghi nhận sự điều chỉnh tăng 200 đồng/kg ở nhóm gạo nguyên liệu xuất khẩu, trong khi giá lúa tươi và gạo bán lẻ vẫn duy trì sự ổn định.
Thị trường lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long duy trì ổn định ngày 19/1. Thống kê năm 2025 ghi nhận xuất khẩu đạt 8 triệu tấn nhưng giá trị giảm hơn 27% so với năm 2024.
Lượng gạo xuất khẩu năm 2025 của Việt Nam giảm gần 28% về giá trị so với năm 2024 cho thấy cú 'rơi' mạnh của giá gạo thế giới đã kéo doanh thu xuống rõ rệt. Dự báo năm 2026 cung gạo toàn cầu tiếp tục dư thừa, tồn kho thế giới duy trì ở mức cao.
Giá lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ngày 17/1 duy trì trạng thái ổn định, phản ánh sự cân bằng cung - cầu. Các mặt hàng chủ lực như Đài Thơm 8 và OM 18 không ghi nhận biến động mới về giá.
Giá lúa gạo hôm nay 17/1 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long duy trì trạng thái đi ngang. Thị trường gạo trong nước và xuất khẩu ổn định nhờ cung - cầu cân bằng.
Theo thống kê của Cục Hải quan, năm 2025 xuất khẩu gạo cả nước đạt hơn 8 triệu tấn, kim ngạch khoảng 4,1 tỷ USD, giảm 10,8% về khối lượng và giảm 27,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024. Nguyên nhân là do nhu cầu và giá gạo thế giới đều giảm sâu trong khi cạnh tranh gia tăng từ các quốc gia xuất khẩu.
Sáng ngày 16/1, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu như Đài Thơm 8 và IR 504 tăng nhẹ 50-100 đồng/kg, trong khi giá lúa tươi và gạo bán lẻ tại khu vực ĐBSCL duy trì ổn định.
Ngày 16/1, giá gạo Đài Thơm 8 và IR 504 nguyên liệu tăng từ 50-100 đồng/kg. Ngược lại, giá lúa tươi và gạo xuất khẩu giữ mức ổn định trong bối cảnh giao dịch tại nhiều địa phương diễn ra chậm.
Giá lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long đồng loạt giảm nhẹ 200 đồng/kg do giao dịch vụ Đông Xuân chậm, trong khi giá gạo nội địa và xuất khẩu duy trì đà đi ngang.
Giá lúa tươi tại Đồng bằng sông Cửu Long ngày 15/1 đồng loạt điều chỉnh giảm do giao dịch vụ Đông Xuân chậm, trong khi thị trường gạo nguyên liệu và xuất khẩu đi ngang.
Thị trường lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long ngày 14/1 ghi nhận xu hướng tăng nhẹ ở phân khúc lúa tươi tại các vùng thu hoạch sớm, trong khi giá gạo nội địa và xuất khẩu tiếp tục đi ngang.
Thị trường lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận đà tăng nhẹ ở phân khúc lúa tươi thu hoạch sớm, trong khi giá gạo nguyên liệu và xuất khẩu duy trì trạng thái đi ngang.
Thị trường lúa gạo bước sang năm 2026 với tín hiệu phục hồi cục bộ nhưng chưa đủ lực để đảo chiều xu hướng chung.
Sáng 13/1, Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Văn Quan tổ chức lễ phát động phong trào 'Chung tay thắp sáng đường thôn'.
Giá lúa gạo ngày 13/1 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long duy trì trạng thái đi ngang. Trong khi lúa tươi giữ giá vững, hoạt động mua bán tại các địa phương diễn ra khá chậm.
Giá lúa gạo ngày 13/1 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long duy trì ổn định trong bối cảnh giao dịch chậm. Các loại gạo nguyên liệu và xuất khẩu giữ vững mặt bằng giá.
Giá lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long duy trì trạng thái ổn định trong phiên giao dịch ngày 13/1. Giao dịch toàn thị trường ghi nhận sự trầm lắng khi nguồn cung lúa Đông Xuân mới bắt đầu xuất hiện rải rác.
Sáng 12/1, thị trường lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long duy trì trạng thái ổn định, chờ đợi tín hiệu từ xuất khẩu trong bối cảnh giá gạo bình quân năm 2025 giảm mạnh.
Giá gạo nguyên liệu xuất khẩu giảm 50-150 đồng/kg trong khi giá lúa tươi đi ngang. Thị trường Đồng bằng sông Cửu Long trầm lắng do vụ Đông Xuân chưa vào cao điểm.
Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long ngày 10/1 ổn định. Dù lúa Đông Xuân đã chào bán rải rác nhưng giao dịch vẫn trầm lắng, giá các loại lúa chính đi ngang.
Ngày 9/1, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu Đài Thơm 8 giảm nhẹ xuống 8.800-8.900 đồng/kg. Tại miền Tây, giá lúa tươi duy trì ổn định trong bối cảnh nguồn cung hạn chế và sức mua yếu.
Thị trường lúa gạo ngày 9/1 ghi nhận xu hướng giảm nhẹ ở phân khúc gạo nguyên liệu trong khi giá lúa tươi giữ mức ổn định. Hoạt động mua bán tại Đồng bằng sông Cửu Long khá trầm lắng do nguồn cung hạn chế.
Ngày 7/1, giá lúa và gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long nhích nhẹ từ 50 - 100 đồng/kg. Tuy nhiên, thị trường vẫn khá trầm lắng do nguồn cung hạn chế và tâm lý thận trọng.
Thị trường lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long ngày 6/1 ghi nhận đà tăng nhẹ 50-100 đồng/kg ở phân khúc gạo xuất khẩu, trong khi giá lúa tươi duy trì ổn định do nguồn cung vụ Đông Xuân chưa dồi dào.
Thị trường lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long ngày 6/1 duy trì sự ổn định ở mặt hàng lúa, trong khi giá gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu ghi nhận mức tăng từ 50-100 đồng/kg.
Ngày 5/1/2026, giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long đi ngang trong bối cảnh giao dịch chậm. Gạo xuất khẩu 5% tấm duy trì sức cạnh tranh tại mốc 440 USD/tấn.
Ngày 5/1/2026, giá lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long duy trì trạng thái ổn định với lượng giao dịch thấp. Gạo thơm 5% tấm xuất khẩu vẫn neo ở mức cao 440 USD/tấn.
Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long duy trì đà đi ngang trong ngày 5/1/2026. Trong khi đó, gạo thơm xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục neo ở ngưỡng cao 440 USD/tấn.
Ghi nhận ngày 5/1/2026, giá lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long không có biến động mới. Trong khi đó, giá gạo xuất khẩu Việt Nam vẫn duy trì sức cạnh tranh tốt ở mức cao.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, xuất khẩu gạo năm 2025 đạt 7,85 triệu tấn, trị giá 4,02 tỷ USD, giảm 12,7% về khối lượng và giảm 29,4% về giá trị so với năm 2024. Đây là mức giảm mạnh nhất trong nhiều năm trở lại đây, phản ánh bối cảnh thị trường thế giới dư cung, nhu cầu chững lại và cạnh tranh gia tăng...
Thị trường lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long ngày 3/1 duy trì đà đi ngang. Các kho thu mua cầm chừng do nguồn cung cuối vụ thấp, nhu cầu thị trường chưa khởi sắc.
Ngày 3/1, thị trường lúa gạo miền Tây duy trì ổn định trong bối cảnh nguồn cung cuối vụ hạn chế. Các mặt hàng lúa tươi như Đài Thơm 8 và OM 18 giữ mốc cao nhất 6.700 đồng/kg.
Thị trường lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long ngày đầu năm 2026 ghi nhận trạng thái đi ngang. Giá lúa tươi duy trì mức 5.200 - 6.700 đồng/kg trong bối cảnh nguồn cung hạn chế.
Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam ghi nhận mức giảm từ 7 – 15 USD/tấn trong phiên ngày 31/12. Trong khi đó, thị trường lúa gạo nội địa duy trì trạng thái ổn định nhưng giao dịch khá trầm lắng.
Giá gạo xuất khẩu Việt Nam ghi nhận đà giảm mạnh từ 7 – 15 USD/tấn, trong khi thị trường nội địa tại Đồng bằng sông Cửu Long duy trì trạng thái ổn định nhưng trầm lắng.
Trong phiên giao dịch ngày 31/12, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam giảm mạnh từ 7 - 15 USD/tấn. Tại thị trường trong nước, giá lúa gạo duy trì ổn định nhưng giao dịch trầm lắng.
Giá lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ngày 30/12 duy trì ổn định, giao dịch chậm do nguồn cung hạn chế và nhu cầu từ thương lái chững lại vào cuối năm.
Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay duy trì ổn định trong bối cảnh thị trường giao dịch trầm lắng. Nguồn cung cuối vụ hạn chế khiến giá đi ngang.
Giá lúa gạo tại miền Tây ổn định trong phiên sáng đầu tuần 29/12. Khối lượng xuất khẩu 11 tháng năm 2025 đạt 7,5 triệu tấn nhưng kim ngạch giảm mạnh so với cùng kỳ.
Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay duy trì xu hướng đi ngang. Trong khi gạo OM 18 giữ mức giá cao, kim ngạch xuất khẩu gạo 11 tháng năm 2025 đạt 3,83 tỷ USD.
Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long ngày 29/12 duy trì ổn định, gạo nguyên liệu IR 50404 dao động 7.600-7.700 đồng/kg trong bối cảnh giao dịch cuối năm chậm.
Sáng 29/12, giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long duy trì trạng thái bình ổn. Dù kim ngạch xuất khẩu 11 tháng giảm mạnh, giá nội địa vẫn giữ mức ổn định vào giai đoạn cuối năm.
Giá lúa gạo ngày 28/12 tại ĐBSCL duy trì ổn định. Các loại lúa OM 18 và Đài Thơm 8 giữ mức 6.700 đồng/kg trong bối cảnh nguồn cung cuối vụ đang dần hạn chế.
Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long ngày 28/12 duy trì ổn định. Các loại lúa OM 18, Đài Thơm 8 giữ mức 6.700 đồng/kg trong bối cảnh nguồn cung cuối vụ hạn chế.