Thực hiện 'Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ đến năm 2020' được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 14/6/2006, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam được giao chủ trì xây dựng, trình duyệt, tổ chức thực hiện Chương trình Khoa học và Công nghệ cấp Quốc gia về công nghệ Vũ trụ giai đoạn 2016-2020.
Công nghệ vũ trụ là công nghệ cao nhất, kết tinh của các công nghệ cao trên thế giới và luôn luôn là cuộc chơi của những quốc gia dẫn dắt. Tuy Việt Nam không phải là một quốc gia đi đầu, kể cả về tiềm lực kinh tế và khoa học công nghệ, nhưng chúng ta đã có những kết quả nghiên cứu để làm chủ công nghệ vũ trụ và từ đó có thể phát triển một số sản phẩm của riêng mình.
Các vệ tinh mà Việt Nam đang sở hữu đã đem lại nhiều lợi ích đối với sự phát triển kinh tế-xã hội; giám sát môi trường, khí tượng, bản đồ, dự báo và đánh giá tác động của biến đổi khí hậu...
Trong thời đại phát triển vũ bão của khoa học và công nghệ trên giới hiện nay, việc phát triển khoa học và công nghệ vũ trụ tại nước ta nhằm đáp ứng nhu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, tiến đến hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước, đang có nhiều cơ hội và cũng gặp không ít thách thức.
Dự án đánh giá xâm nhập mặn tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long nằm trong khuôn khổ chương trình thử nghiệm hợp tác giữa Bộ Tài nguyên và môi trường Việt Nam với Bộ Môi trường, đất đai và biển Italia.
Siêu dữ liệu ảnh viễn thám SPOT 6/7 độ phân giải 1,5m và dữ liệu VNREDSat-1 độ phân giải 2,5m trong năm 2020 và quý 1 năm 2021 được Cục Viễn thám quốc gia thu tại trạm thu ảnh viễn thãm quốc gia.
Lần đầu tiên tại Việt Nam, các nhà khoa học thuộc Cục Viễn thám quốc gia (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã tính toán sự phát thải carbon sử dụng công nghệ viễn thám, hệ thống thông tin địa lý (GIS) kết hợp phần mềm tính toán.
Việc sử dụng ảnh độ phân giải cao như VNREDSat-1 làm tăng độ chính xác xây dựng các bản đồ biến động lớp phủ mặt đất, từ đó sẽ tăng độ chính xác và độ chi tiết đối với kết quả phát thải carbon.
VNREDSat-1 là vệ tinh viễn thám đa phổ đầu tiên của Việt Nam có thể giúp thu thập dữ liệu vật chất lơ lửng ở các vùng nước ven bờ, từ đó nâng cao năng lực quản lý tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam.