Việt Nam xuất khẩu 1,3 triệu tấn gạo trong 2 tháng đầu năm 2026, thu về 599,3 triệu USD. Dù khối lượng tăng trưởng, kim ngạch sụt giảm do giá xuất khẩu bình quân giảm sâu 15,4%.
Việt Nam xuất khẩu 1,3 triệu tấn gạo trong 2 tháng đầu năm nhưng kim ngạch chỉ đạt 599,3 triệu USD do giá gạo xuất khẩu bình quân sụt giảm 15,4% so với cùng kỳ.
Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,3 triệu tấn gạo trong 2 tháng đầu năm 2026, đạt kim ngạch 599,3 triệu USD. Dù sản lượng tăng trưởng, giá trị kim ngạch sụt giảm do giá bán bình quân thấp hơn so với cùng kỳ.
Việt Nam xuất khẩu 1,3 triệu tấn gạo trong 2 tháng đầu năm 2026, đạt kim ngạch 599,3 triệu USD. Dù khối lượng tăng, giá trị lại sụt giảm do giá bán bình quân thấp hơn cùng kỳ.
Việt Nam ghi nhận khối lượng gạo xuất khẩu tăng trưởng trong 2 tháng đầu năm 2026, tuy nhiên kim ngạch giảm 11,2% xuống còn 599,3 triệu USD do áp lực giảm giá bán bình quân.
Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,3 triệu tấn gạo trong 2 tháng đầu năm 2026. Dù khối lượng tăng trưởng, giá trị kim ngạch sụt giảm 11,2% do áp lực từ giá xuất khẩu bình quân.
Xuất khẩu gạo 2 tháng đầu năm 2026 tăng về lượng nhưng giảm giá trị. Giá gạo thế giới đi xuống, tồn kho cao, chi phí tăng, tạo áp lực cho doanh nghiệp và người trồng lúa.
Thị trường lúa gạo trong nước ngày 11/3 ghi nhận sự ổn định về giá dù giao dịch chậm tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Trong khi đó, giá gạo xuất khẩu tiếp tục duy trì ưu thế cạnh tranh so với các đối thủ trong khu vực.
Thủ tướng giao Bộ Tài chính chủ trì nghiên cứu các giải pháp giảm chi phí logistics và chi phí xuất khẩu cho doanh nghiệp trong bối cảnh chi phí vận tải quốc tế tăng cao. Xem xét, triển khai các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu gạo, tạo điều kiện thuận lợi trong hoàn thuế và thông quan.
Thị trường lúa gạo ngày 11/3 ghi nhận giá gạo xuất khẩu Việt Nam ở mức cao so với khu vực, trong khi giá gạo nguyên liệu trong nước có xu hướng tăng nhẹ 200 đồng/kg.
Năm 2026, ngành lúa gạo Việt Nam xác định không chỉ duy trì thị phần xuất khẩu tại các thị trường truyền thống mà chủ động chuyển hướng sang những thị trường có nhu cầu và yêu cầu chất lượng cao, như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc… Sự thay đổi này nhằm mở rộng thị trường và chủ động thích ứng biến động thương mại toàn cầu.
Tháng 1/2026, Việt Nam xuất khẩu 651 nghìn tấn gạo, đạt gần 310 triệu USD, tăng 19% về sản lượng.
Thái Lan xuất khẩu 7,9 triệu tấn gạo năm 2025, vượt mục tiêu đề ra và đạt giá trị 4,5 tỷ USD. Năm 2026, dự báo xuất khẩu giảm còn 7 triệu tấn trước áp lực cạnh tranh.
Năm 2025, Thái Lan xuất khẩu 7,9 triệu tấn gạo, vượt mục tiêu đề ra và thu về 148.204 triệu baht. Dự báo năm 2026, mục tiêu giảm còn 7 triệu tấn do cạnh tranh.
Số liệu vừa công bố của Chính phủ Nhật Bản cho thấy xuất khẩu gạo của nước này tăng 3,7% trong năm 2025, đạt mức kỷ lục mới dù đà tăng đã chậm lại đáng kể.
Năm 2025, Nhật Bản xuất khẩu hơn 48.000 tấn gạo và sản phẩm từ gạo, cao nhất từ trước tới nay, song vẫn mới đạt khoảng 17% mục tiêu giá trị đặt ra cho năm 2030.
Giá gạo Việt Nam tiếp tục giữ vị thế cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu. Gạo thơm 5% tấm hiện được chào bán trong khoảng 415 – 430 USD/tấn, gạo Jasmine dao động quanh mức 426 – 430 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm giữ ở mức trên 315 USD/tấn.
Định hướng nâng tỷ trọng gạo thơm, gạo chất lượng cao trong tổng lượng xuất khẩu năm 2026 được xem là trụ cột để nâng giá trị, giảm rủi ro thị trường và khẳng định thương hiệu gạo Việt trên bản đồ thế giới.
Trong bối cảnh xuất khẩu gạo tiếp tục gặp khó tại thị trường lớn là Indonesia, Bộ Công Thương tập trung các hoạt động xúc tiến, đa dạng hóa thị trường, tận dụng tốt các FTA và các Bản ghi nhớ thương mại gạo với các đối tác để đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này trong năm 2026.
Hiện nay, Việt Nam đã ký kết Hiệp định thương mại tự do (FTA) với EU, Vương quốc Anh, trong đó có các cam kết về gạo, vì vậy, cần đẩy mạnh tận dụng ưu đãi từ các FTA đã ký, khai mở các thị trường mới, tiềm năng.
Năm 2026, Bộ Công Thương sẽ đẩy mạnh, đẩy nhanh việc hoàn thiện thể chế quản lý trong xuất khẩu gạo, tạo thuận lợi hơn nữa trong quá trình giao thương.
Trong bối cảnh thị trường gạo khu vực có nhiều điều chỉnh đáng chú ý, Bộ Công Thương vừa phát đi khuyến nghị quan trọng đối với doanh nghiệp xuất khẩu gạo sang Indonesia.
Vụ Phát triển thị trường nước ngoài khuyến cáo doanh nghiệp cần chủ động cập nhật thông tin, phối hợp chặt chẽ với các hiệp hội, cơ quan quản lý để kịp thời điều chỉnh kế hoạch sản xuất-kinh doanh.
Theo tính toán của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2026, cả nước ước gieo cấy 7,09 triệu ha lúa, năng suất bình quân 61,4 tạ/ha, đưa sản lượng lúa lên khoảng 43,552 triệu tấn. Theo đó, Bộ dự kiến lượng gạo hàng hóa phục vụ xuất khẩu tương đương 7,73 triệu tấn và kiến nghị Bộ Công Thương điều hành xuất khẩu theo các tháng thu hoạch lớn, đồng thời siết minh bạch thu mua, duy trì dự trữ và đẩy mạnh chuyển đổi số để cảnh báo sớm rủi ro cung - cầu.
Trước xu hướng thắt chặt nguồn cung năng lượng và tham vọng trở thành quốc gia xuất khẩu gạo của Indonesia, ngày 21/1, Bộ Công Thương ra khuyến nghị nhằm giúp doanh nghiệp trong nước chủ động phương án thích ứng và giảm thiểu rủi ro.
Theo Vụ Phát triển thị trường nước ngoài (Bộ Công Thương), Indonesia vừa phát đi một số tín hiệu chính sách mới liên quan đến hai mặt hàng chiến lược là than và gạo. Đây cũng là đối tác lớn của Việt Nam về thương mại với 2 mặt hàng này.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết năm 2026 dự kiến có khoảng 7,73 triệu tấn gạo hàng hóa phục vụ cho xuất khẩu, trong văn bản gửi Bộ Công Thương về cân đối cung cầu thóc gạo hàng hóa phục vụ công tác điều hành xuất khẩu gạo.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường ước tính năm 2026 Việt Nam có khoảng 15,46 triệu tấn lúa hàng hóa, tương đương 7,73 triệu tấn gạo phục vụ xuất khẩu, tập trung chủ yếu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Năm 2026, Việt Nam dự kiến có khoảng 7,73 triệu tấn gạo hàng hóa phục vụ xuất khẩu. Nguồn cung chủ yếu đến từ Đồng bằng sông Cửu Long và một phần tỉnh Tây Ninh (Long An cũ).
Phúc đáp Công văn số 132/BCT-XNK ngày 9/1/2026 của Bộ Công thương về cân đối cung cầu thóc gạo hàng hóa phục vụ công tác điều hành xuất khẩu gạo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, kế hoạch sản xuất lúa năm 2026 của cả nước cơ bản ổn định, bảo đảm an ninh lương thực và nguồn hàng cho xuất khẩu.
Trong văn bản gửi Bộ Công Thương về cân đối cung cầu thóc gạo hàng hóa phục vụ công tác điều hành xuất khẩu gạo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, năm 2026 dự kiến có khoảng 7,73 triệu tấn gạo hàng hóa phục vụ cho xuất khẩu.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường dự báo, năm 2026 cả nước sản xuất hơn 43,5 triệu tấn lúa, trong đó khoảng 7,73 triệu tấn gạo hàng hóa dành cho xuất khẩu.
Mặc dù không được phân bổ hạn ngạch song Việt Nam vẫn duy trì thị phần đáng kể khi xuất khẩu 17,48 nghìn tấn gạo sang Đài Loan (Trung Quốc) trong năm 2025, chiếm 14,34% thị phần, đứng thứ ba về lượng cung gạo cho thị trường này.
Thị trường lúa gạo bước sang năm 2026 với tín hiệu phục hồi cục bộ nhưng chưa đủ lực để đảo chiều xu hướng chung.
Năm 2025 khép lại với nhiều gam màu trầm đối với xuất khẩu gạo Việt Nam. Dù vẫn duy trì sản lượng trong nhóm cao nhất thế giới, song kim ngạch thu về sụt giảm mạnh do giá gạo toàn cầu lao dốc, cạnh tranh ngày càng gay gắt và các thị trường nhập khẩu lớn điều chỉnh chính sách.
Thị trường lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long sáng 12/1 duy trì trạng thái ổn định. Báo cáo năm 2025 cho thấy giá trị xuất khẩu giảm mạnh do áp lực cạnh tranh quốc tế.
Ngày 11/1, Cơ quan Hậu cần Nhà nước Indonesia khẳng định đã sẵn sàng triển khai kế hoạch xuất khẩu gạo và ngô trong năm 2026.
Đối với Việt Nam, việc tiếp cận các thị trường có quy mô vừa phải nhưng sức mua ổn định, tiêu chuẩn cao và phụ thuộc lớn vào nhập khẩu như Israel đang trở thành hướng đi đúng đắn.
Năm 2026, xuất khẩu gạo đứng trước nhiều biến động khi thị trường truyền thống thu hẹp. Điều hành linh hoạt, đa dạng thị trường, phân khúc là 'chìa khóa' giữ tăng trưởng.
Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long duy trì đà đi ngang trong ngày 5/1/2026. Trong khi đó, gạo thơm xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục neo ở ngưỡng cao 440 USD/tấn.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, xuất khẩu gạo năm 2025 đạt 7,85 triệu tấn, trị giá 4,02 tỷ USD, giảm 12,7% về khối lượng và giảm 29,4% về giá trị so với năm 2024. Đây là mức giảm mạnh nhất trong nhiều năm trở lại đây, phản ánh bối cảnh thị trường thế giới dư cung, nhu cầu chững lại và cạnh tranh gia tăng...
Chỉ trong 11 tháng đầu năm 2025, lượng gạo nhập khẩu tư nhân vào Nhật Bản tăng gấp 104 lần so với cùng kỳ năm trước - mức chưa từng có tiền lệ, khi giá gạo trong nước leo thang buộc doanh nghiệp và nhà hàng phải tìm nguồn thay thế.
Năm 2026, thị trường gạo được dự báo có nguồn cung toàn cầu duy trì ở mức cao, nhu cầu nhập khẩu tại nhiều thị trường lớn chậm lại, áp lực cạnh tranh ngày càng cao.
Tại Hội nghị kinh doanh xuất khẩu gạo do Bộ Công Thương tổ chức mới đây, Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Nguyễn Anh Sơn đã chỉ ra hàng loạt yếu tố bất lợi đang tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu gạo, trong đó nổi bật là tình trạng bất ổn an ninh, chính trị leo thang tại một số quốc gia, khu vực; lạm phát toàn cầu dù đã hạ nhiệt nhưng vẫn duy trì ở mức cao; thương mại và đầu tư toàn cầu phục hồi chậm, trong khi nhiều nền kinh tế lớn tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt.
Giá lúa gạo trong nước tuần qua ổn định, hầu hết đi ngang, trong khi gạo xuất khẩu tăng nhờ nhu cầu một số thị trường ấm lên, mang tín hiệu tích cực cho doanh nghiệp và xuất khẩu Việt Nam.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất ký kết quy chế hợp tác với Bộ Công Thương, đặc biệt trong công tác đàm phán hiệp định thương mại nhằm đảm bảo chuỗi cung ứng từ sản xuất đến tiêu thụ, xuất khẩu sản phẩm nông sản đạt yêu cầu trong giai đoạn tới.
Thị trường nông sản những tháng cuối năm 2025 cho thấy bức tranh nhiều gam màu đan xen, trong đó nổi bật là hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam tiếp tục duy trì sản lượng cao, song giá trị sụt giảm mạnh do nhu cầu quốc tế yếu và áp lực cạnh tranh gia tăng.
Xuất khẩu gạo Việt Nam năm 2025 gặp sóng gió khá lớn khi thị trường lớn nhất (từng chiếm 40% tổng sản lượng xuất khẩu) dừng nhập khẩu từ ngày 1/9/2025. Tuy nhiên, điểm sáng đáng chú ý là sự chuyển hướng, đa dạng hóa thị trường kịp thời đã giúp Việt Nam giữ ổn định vị trí Top 3 thị trường xuất khẩu lớn nhất thế giới.
Việc tận dụng chứng nhận xuất xứ (C/O) ưu đãi giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, gia tăng giá trị và giữ vững sức cạnh tranh.
Đại diện Thương vụ Việt Nam tại Úc và Trung Quốc vừa cập nhật nhiều thông tin, khuyến nghị thiết thực giúp doanh nghiệp xuất khẩu gạo nắm rõ xu hướng thị trường.