Sau hợp nhất, Thành phố Hồ Chí Minh có 105 khu chế xuất, khu công nghiệp, tổng diện tích hơn 50.288ha. Trước cơ hội đón dòng vốn FDI thế hệ mới, Thành phố đang chuyển mạnh từ thu hút đầu tư theo số lượng sang chọn lọc dự án có công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và khả năng tạo liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Thu hút đầu tư công nghệ cao đang đặt ra yêu cầu về quỹ đất, hạ tầng, nguồn điện và nhân lực. Các địa phương cần kết nối nhà đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp Việt Nam để dòng vốn không chỉ tạo nhà máy mà còn thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nâng giá trị sản xuất.
Khu công nghiệp (KCN) thế hệ mới không chỉ cung cấp mặt bằng và hạ tầng, mà phải hình thành một hệ sinh thái đồng bộ về logistics, năng lượng, tài chính, công nghệ, nhân lực và chuỗi cung ứng để nâng sức cạnh tranh, giữ chân nhà đầu tư.
TP. Hồ Chí Minh tái cấu trúc không gian công nghiệp, mở rộng dư địa đón FDI công nghệ cao, nâng hiệu quả khu công nghiệp, cụm công nghiệp và tăng liên kết vùng thực chất.
Dòng vốn FDI quy mô lớn mở ra cơ hội để TP. Hồ Chí Minh tái cấu trúc không gian công nghiệp, chuẩn bị quỹ đất và hình thành hệ sinh thái sản xuất mới.
Làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu cùng xu hướng chuyển đổi xanh và số hóa đang định hình lại dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Để đón dòng vốn FDI thế hệ mới, Việt Nam cần kiến tạo một hệ sinh công nghiệp thái toàn diện nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế khắt khe hơn và từng bước nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế…
Sau hơn 3 thập niên phát triển, hệ thống khu công nghiệp đã trở thành một phần quan trọng của quá trình công nghiệp hóa và thu hút FDI của Việt Nam. Tuy nhiên, ở giai đoạn hiện nay, hiệu quả của khu công nghiệp không nên chỉ được nhìn qua số lượng hay tỷ lệ lấp đầy.
Sau sắp xếp, TP Hồ Chí Minh có 105 khu chế xuất, khu công nghiệp với tổng diện tích quy hoạch hơn 50.288ha, mở rộng đáng kể dư địa thu hút các dự án công nghệ cao, sản xuất xanh và có giá trị gia tăng lớn.
TP.HCM thu hút 17,225 tỷ USD vốn FDI từ đầu năm đến 19/9/2026, vượt 56,6% mục tiêu cả năm, với nhiều dự án quy mô lớn trong lĩnh vực hạ tầng, logistics và công nghệ cao.
Từ ưu đãi dựa trên kết quả, tăng cường liên kết với doanh nghiệp (DN) Việt Nam đến kiểm chứng hiệu quả đầu tư, Nghị quyết số 10-NQ/TW đang đặt FDI trước một thước đo mới: Không chỉ là dòng vốn vào, mà quan trọng hơn là khả năng tạo ra và lan tỏa giá trị trong nền kinh tế. Nghị quyết này cùng cơ chế ưu đãi đầu tư chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi được tổ chức thực hiện bài bản, gắn với việc kiểm tra, giám sát chặt chẽ, qua đó bảo đảm chính sách phát huy hiệu quả và mang lại giá trị tương xứng cho nền kinh tế.
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 280/NQ-CP ngày 22/9/2026 về Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 280 về Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trọng tâm là cải thiện môi trường đầu tư, thu hút dòng vốn chất lượng cao và tăng liên kết với khu vực kinh tế trong nước.
Dòng vốn FDI đang gia tăng, nhưng cuộc cạnh tranh thu hút dự án tại miền Bắc không còn xoay quanh quỹ đất. Nguồn cung khu công nghiệp mở rộng khiến nhà đầu tư có thêm lựa chọn, đồng thời đặt ra yêu cầu mới đối với cả địa phương và chủ đầu tư về hạ tầng, logistics, hệ sinh thái sản xuất và khả năng đưa dự án vào vận hành.
Chính phủ yêu cầu nghiên cứu cơ chế ưu đãi, thủ tục đầu tư linh hoạt cho các dự án FDI quan trọng gắn với công nghệ, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số.
FDI 1.0, FDI 2.0 hay FDI thế hệ mới không đơn thuần là những “thế hệ” nối tiếp nhau theo thời gian, mà phản ánh những cấp độ phát triển khác nhau của cùng một dòng vốn. Cách nhìn này có thể mở ra một hướng tiếp cận mới cho công tác xúc tiến đầu tư của Việt Nam trong giai đoạn 2026 - 2045.
Dòng vốn FDI vào Việt Nam tiếp tục khả quan. Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển mới, thước đo thành công cần đi xa hơn số vốn thu hút được, hướng tới công nghệ, R&D, năng lực doanh nghiệp trong nước và phần giá trị gia tăng được giữ lại.
TP. Hồ Chí Minh đang thay đổi cách tiếp cận thu hút FDI vào các khu công nghiệp, khu chế xuất theo hướng: chuyển từ tiếp nhận bị động sang chủ động tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược, xúc tiến theo chuỗi giá trị và tập trung vào chất lượng công nghệ cao...
Từ nền tảng công nghiệp Dung Quất, Quảng Ngãi đang tìm kiếm những động lực đủ mạnh cho một chu kỳ phát triển mới. Mục tiêu trở thành tỉnh phát triển khá, là một cực tăng trưởng quan trọng của khu vực miền Trung - Tây Nguyên.
Trong 8 tháng năm 2026, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Đồng Nai đạt gần 1,9 tỷ USD. Đồng Nai tiếp tục trong tốp những địa phương có kết quả thu hút FDI cao nhất cả nước.
"Việt Nam vẫn nghèo", "tăng trưởng chỉ nhờ FDI", "năng suất thấp"… đó là những cái cớ quen thuộc bị các thế lực thù địch, cơ hội chính trị cố tình lợi dụng nhằm phủ nhận thành tựu 40 năm Đổi mới.
Kế hoạch mới đặt trọng tâm cải thiện môi trường đầu tư, phát triển nhân lực và ưu tiên dự án FDI công nghệ cao, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số.
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng thay mặt Chính phủ ký Nghị quyết số 280/NQ-CP ngày 22/9/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (Kế hoạch).
Từ lợi thế đất đai, nhân công, bất động sản công nghiệp Việt Nam bước vào cuộc đua mới, nơi hạ tầng xanh, logistics và liên kết chuỗi quyết định sức hút.
Chính sách mới của Chính phủ và hạ tầng được đầu tư lớn trở thành động lực để thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới.
Chính sách minh bạch, cải cách thể chế và ưu đãi đầu tư đang củng cố niềm tin, thu hút FDI chất lượng cao; hạ tầng giao thông và logistics liên vùng được nâng cấp mạnh, nâng cao kết nối, thúc đẩy bất động sản công nghiệp cũng như cải thiện hiệu quả vận hành cho doanh nghiệp.
Ngày 21/9/2026, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai ban hành Kế hoạch số 129-KH/TU thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Thay vì từng doanh nghiệp tự phát triển một cách riêng lẻ, Việt Nam cần xây dựng được một "hệ sinh thái" phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Nếu trước đây chi phí lao động, quỹ đất và vị trí địa lý thường được xem là những lợi thế chính của Việt Nam.
Hải Phòng sẵn sàng phát huy vai trò một trong những cửa ngõ hướng biển quan trọng của Hành lang kinh tế, đồng hành cùng các địa phương để mở rộng kết nối với thị trường ASEAN và quốc tế.
ĐNCT - Tám tháng qua, Đà Nẵng thu hút 682 triệu USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tăng 186,6% so với cùng kỳ năm trước. Con số ấy đáng chú ý không chỉ vì mức tăng gần gấp ba. Điều đáng nói hơn nằm ở cách dòng vốn đang vận động.
Ninh Bình đang ưu tiên thu hút các dự án công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, thân thiện môi trường, từng bước nâng chất lượng dòng vốn đầu tư.
Dòng vốn đầu tư quốc tế tiếp tục tìm đến Việt Nam, song thu hút được bao nhiêu vốn chưa phải thước đo duy nhất. Yêu cầu quan trọng hơn là tăng liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước, nâng tỷ lệ nội địa hóa và đưa doanh nghiệp Việt vào những khâu có giá trị cao hơn.
Từ cho thuê mặt bằng, bất động sản công nghiệp đang chuyển hướng kiến tạo hệ sinh thái, đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp FDI và nâng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt.
Việc xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ đồng bộ, hiện đại và xanh không chỉ là yêu cầu đối với phát triển sản xuất bền vững, mà đang trở thành một trong những yếu tố quan trọng để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu…
Đóng góp hơn 20% tổng thu nội địa từ sự vận hành của khoảng 2.000 doanh nghiệp, tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài, khối FDI đang giữ vai trò động lực trong quy mô ngân sách Hải Phòng. Đây là thành quả trực tiếp từ chính sách thu hút đầu tư có trọng tâm, trọng điểm và chú trọng chất lượng của địa phương.
Khi quỹ đất và ưu đãi thuế không còn là lợi thế, việc xây dựng hệ sinh thái công nghiệp xanh và chuỗi cung ứng nội địa vững mạnh đang trở thành nền tảng cốt lõi để Việt Nam thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới.
Tính đến hết tháng 8, Hà Nội đứng thứ 3 cả nước về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI. Dòng vốn này đang tạo thêm nhu cầu về xây dựng nhà máy, thiết bị và linh phụ kiện. Qua đó, mở thêm cơ hội cho doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng của khu vực FDI.
Bất động sản công nghiệp tiếp tục là điểm sáng của thị trường, với dòng vốn FDI sản xuất và kế hoạch phát triển thêm hàng trăm khu công nghiệp đến năm 2030.
Hệ sinh thái công nghiệp xanh, doanh nghiệp cung ứng đủ năng lực và hạ tầng đồng bộ đang trở thành yêu cầu mới để Việt Nam đón dòng FDI thế hệ mới.
Thu hút đầu tư đang bước vào giai đoạn cạnh tranh mới, khi doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến ưu đãi hay chi phí, mà chú trọng hơn đến chất lượng môi trường đầu tư và khả năng phát triển dài hạn. Muốn đón dòng vốn lớn, TP. Hồ Chí Minh cần mở rộng không gian kinh tế liên kết, kết nối lợi thế các địa phương thành những chuỗi giá trị mới.
Trong 8 tháng đầu năm 2026, thành phố Cần Thơ thu hút 3 dự án FDI mới với tổng vốn đăng ký 25,22 triệu USD, nâng tổng số dự án FDI lên 125, với tổng vốn đăng ký hơn 7,153 tỷ USD.
Nhằm hoàn thiện quy định về chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, xây dựng cơ chế ưu đãi vượt trội, cạnh tranh, thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế số, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư đã bổ sung 4 hình thức hỗ trợ đầu tư mới. Đặc biệt, quy định chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư gắn với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư về công nghệ, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực.
Với tinh thần tái định hình chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài từ Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị, FDI đang chuyển từ cuộc đua thu hút vốn sang cuộc đua kiến tạo lợi thế. Khi nhà đầu tư tìm kiếm không chỉ địa điểm, mà cả hệ sinh thái phù hợp với từng chuỗi giá trị, bài toán đặt ra với các địa phương là định vị đúng lợi thế của mình và kết nối những lợi thế ấy trong một không gian phát triển có tính liên kết.
Trong cuộc trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy, GS.Christopher S. Yoo, Trường Luật Carey thuộc Đại học Pennsylvania (Penn Carey Law), cho rằng Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức, nhưng là những “thách thức tốt”, bởi chúng xuất phát từ một nền kinh tế đang phát triển nhanh và có nhiều cơ hội.
Với hơn 10,4 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký trong 8 tháng đầu năm 2026, tăng tới 138% so với cùng kỳ, TP.HCM đã vươn lên dẫn đầu cả nước về quy mô thu hút dòng vốn ngoại.
Trong bức tranh chuyển dịch kinh tế toàn cầu và sự bứt phá mạnh mẽ của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, An Giang đứng trước những cơ hội lịch sử để chuyển mình trở thành một cực tăng trưởng năng động.
Thời gian qua, hoạt động đối ngoại kinh tế của tỉnh có những bước chuyển mạnh mẽ. Không dừng ở việc quảng bá tiềm năng, hình ảnh đơn thuần, tỉnh tập trung kết nối sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, thu hút các nguồn lực chất lượng cao, phục vụ trực tiếp cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững.
Với khoảng 447 khu công nghiệp đã được thành lập, Việt Nam không còn đứng trước bài toán đơn thuần về số lượng. Thách thức mới là tái định hình hệ thống khu công nghiệp theo những mô hình khác nhau, phù hợp với nhu cầu ngày càng phân hóa của dòng vốn FDI.
Phú Thọ đã hình thành nền tảng công nghiệp và thu hút được nhiều dự án FDI quy mô lớn. Tuy nhiên, để bước vào cuộc cạnh tranh mới về dòng vốn FDI thế hệ mới, lợi thế đất đai, chi phí và quỹ hạ tầng là không đủ. Những điểm nghẽn về vị trí trong chuỗi giá trị, công nghiệp hỗ trợ, chất lượng nhân lực, hạ tầng xanh - số và liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước cần được tháo gỡ đồng bộ, qua đó chuyển từ thu hút đầu tư theo chiều rộng sang lựa chọn và hấp thụ hiệu quả những dòng vốn có công nghệ, giá trị gia tăng, sức lan tỏa cao.
Với các nhà đầu tư công nghệ cao, bài toán không còn chỉ là có bao nhiêu lao động, mà là Việt Nam có thể cung cấp một hệ sinh thái nhân lực, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo đến đâu…
Sau 40 năm mở cửa, Việt Nam đang đứng trước bước chuyển quan trọng trong tư duy về đầu tư nước ngoài. Nếu trước đây, trọng tâm là thu hút được bao nhiêu vốn FDI thì hiện nay, câu hỏi quan trọng hơn là dòng vốn ấy tạo ra được gì cho năng lực nội sinh của nền kinh tế. Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (Nghị quyết 10) vì thế không chỉ điều chỉnh cách thu hút đầu tư, mà sâu xa hơn là tái định hình cách thức lựa chọn, sử dụng và kết nối nguồn lực quốc tế để tạo dựng nội lực quốc gia.
Hiện nay, việc cạnh tranh thu hút đầu tư không còn dừng ở giá thuê đất rẻ hay chính sách ưu đãi tài chính. Từ hạ tầng số hiện đại, logistics tối ưu, nguồn nhân lực kỹ thuật cao đến chuẩn mực phát triển xanh ESG, mạng lưới doanh nghiệp phụ trợ nội địa đủ năng lực là yêu cầu khắt khe của những tập đoàn công nghệ toàn cầu. Điều này buộc Phú Thọ phải thay đổi căn bản tư duy điều hành: Chuyển mạnh từ cung cấp mặt bằng thô sang chủ động kiến tạo một hệ sinh thái công nghiệp hoàn chỉnh, đáp ứng trọn vẹn chu kỳ đầu tư, vận hành và mở rộng bền vững cho các tập đoàn đa quốc gia.
Miền Bắc đang thu hút mạnh nguồn vốn FDI vào sản xuất với tỷ trọng đủ lớn để cho thấy khu vực này đang giữ vai trò trung tâm trong bản đồ sản xuất mới của Việt Nam.
Phú Thọ đặt mục tiêu đến năm 2030 trở thành trung tâm tiếp nhận FDI công nghệ cao, công nghiệp xanh và dịch vụ công nghệ của vùng Tây Bắc và vành đai phía Tây Thủ đô. Để đạt được mục tiêu đó, tỉnh đang chuyển cách tiếp cận từ thu hút từng dự án sang chuẩn bị một hệ sinh thái đủ sức đón các tập đoàn đầu chuỗi, từ hạ tầng công nghiệp, nhân lực, logistics đến nghiên cứu và phát triển (R&D), công nghiệp hỗ trợ và năng lực cung ứng của doanh nghiệp trong tỉnh.
Cộng đồng doanh nghiệp FDI đề xuất Việt Nam tiếp tục hoàn thiện thể chế minh bạch, nhất quán; tăng cường đối thoại, hỗ trợ nhà đầu tư hiện hữu và thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp trong nước để Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhanh chóng đi vào thực tiễn.
Vượt qua quy mô hơn 33 tỷ USD hiện hữu, hợp tác đầu tư Việt Nam – EU đang bước vào giai đoạn nâng tầm về chiều sâu công nghệ. Tại tọa đàm sáng 8/9 do Bộ Tài chính tổ chức, hai bên khẳng định Nghị quyết 10-NQ/TW là đòn bẩy cải cách ưu đãi, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và kết nối doanh nghiệp châu Âu với chuỗi giá trị trong nước.
Với việc tận dụng cơ chế đặc thù của Luật Thủ đô năm 2026 cùng đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số, thành phố Hà Nội chuyển trọng tâm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào những dự án có chất lượng, công nghệ cao, thân thiện môi trường và khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước... qua đó, đưa dòng vốn ngoại trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Ngày 8/9 tại Hà Nội, Bộ Tài chính đã tổ chức Tọa đàm “Triển khai hiệu quả Nghị quyết số 10-NQ/TW để thúc đẩy, nâng tầm hợp tác đầu tư toàn diện Việt Nam-EU trong giai đoạn phát triển mới”.
Thứ trưởng Bộ Tài chính Cao Anh Tuấn khẳng định Bộ Tài chính tiếp tục cải cách, hoàn thiện thể chế về đầu tư, tài chính, thuế và hải quan, đồng thời đối thoại thực chất, xử lý kịp thời các vướng mắc của doanh nghiệp EU.
Ngày 8/9, tại Hà Nội, Bộ Tài chính tổ chức tọa đàm "Triển khai hiệu quả Nghị quyết số 10-NQ/TW để thúc đẩy, nâng tầm hợp tác đầu tư toàn diện Việt Nam - EU trong giai đoạn phát triển mới". Tại đây, đại diện các bên đã cùng nhìn lại chặng đường hợp tác Việt Nam - EU: từ một quan hệ ban đầu chủ yếu tập trung vào hỗ trợ phát triển, đến nay đã mở rộng sang thương mại, đầu tư, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, giáo dục, kết nối và an ninh.
Chiều 8-9, Bộ Tài chính tổ chức tọa đàm “Triển khai hiệu quả Nghị quyết số 10-NQ/TW để thúc đẩy, nâng tầm hợp tác đầu tư toàn diện Việt Nam - EU trong giai đoạn phát triển mới”.