Sinh kế cho phụ nữ vùng biên
Từ những sản vật quen thuộc như măng, lạc, mè, nếp, ớt rừng, dược liệu..., việc hỗ trợ máy móc, thiết bị gắn với tập huấn kỹ năng và tổ chức sản xuất đang mở thêm hướng phát triển sinh kế cho phụ nữ dân tộc thiểu số ở các xã biên giới Trường Sơn, Dân Hóa. Tuy nhiên, để nguồn lực hỗ trợ thực sự phát huy hiệu quả lâu dài, điều quan trọng là từng bước giải quyết bài toán về tổ chức sản xuất, nâng cao giá trị sản phẩm và đầu ra thị trường.
Gỡ “nút thắt” sau thu hoạch
Ở các xã miền núi Trường Sơn, Dân Hóa, sản xuất nông nghiệp và những sản vật sẵn có từ lâu đã gắn với sinh kế của nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Măng, lạc, mè, nếp, mật ong, ớt rừng, dược liệu... có lợi thế riêng, song phần lớn quy mô sản xuất còn nhỏ, việc sơ chế, bảo quản và chế biến hạn chế nên giá trị mang lại chưa tương xứng.
Khó khăn nhất là vào thời điểm nông sản thu hoạch tập trung hoặc gặp những đợt mưa kéo dài, khi chưa có điều kiện sơ chế, bảo quản phù hợp, sản phẩm dễ giảm chất lượng, người dân phải tiêu thụ sớm hoặc chủ yếu bán dưới dạng nguyên liệu. Nhiều công đoạn vẫn làm thủ công, tốn thời gian, công sức nhưng năng suất không cao.

Tổ hợp tác nông sản tại bản Xuân Tiến, xã Trường Sơn ký kết thỏa thuận hợp tác tiêu thụ sản phẩm - Ảnh: M.H
Từ thực tế đó, dự án “Hỗ trợ sinh kế nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ ở các xã khó khăn” được triển khai tại Dân Hóa và Trường Sơn từ tháng 3/2025 đến tháng 12/2027. Dự án do Cơ quan Hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA) tài trợ, Plan International Việt Nam phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường, Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) tỉnh và chính quyền địa phương thực hiện, trọng tâm hỗ trợ phụ nữ dân tộc thiểu số và các hộ sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ chịu tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu.
Với bà Hồ Thị Cam, ở bản Y Leng, xã Dân Hóa, chiếc máy sấy được hỗ trợ đáp ứng một nhu cầu thiết thực. Theo bà Cam, thời tiết miền núi thường xuyên mưa ẩm nên việc phơi, bảo quản măng, dược liệu và các loại nông sản gặp nhiều khó khăn. Có máy sấy, bà con chủ động hơn trong sơ chế, hạn chế hư hỏng, giữ chất lượng sản phẩm và giảm phụ thuộc vào thời tiết.
Trong năm 2026, dự án đã hỗ trợ thành lập 4 tổ thu mua, chế biến nông sản tại Trường Sơn và Dân Hóa, mỗi xã 2 tổ, mỗi tổ 10 thành viên. Các tổ được trang bị máy sấy măng và nông sản, máy ép dầu mè, lạc, máy lọc dầu, máy xay bột khô, máy hút chân không, tủ đông, tủ mát, dụng cụ sơ chế dược liệu cùng một số thiết bị khác, với tổng giá trị bình quân gần 150 triệu đồng/tổ.
Điểm đáng chú ý là thiết bị được lựa chọn dựa trên nguồn nguyên liệu và hoạt động sản xuất đang có tại địa phương. Thay vì đưa vào một nghề mới, nguồn lực hỗ trợ tập trung bổ sung những khâu người dân còn thiếu trong quá trình sơ chế, chế biến và bảo quản. Qua đó, nông sản có thêm điều kiện kéo dài thời gian bảo quản, đa dạng cách chế biến và từng bước nâng giá trị thay vì chủ yếu tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu thô.
Liên kết tổ chức sản xuất
Nếu chỉ trao máy móc cho từng hộ riêng lẻ, hiệu quả sử dụng thiết bị khó tránh khỏi phân tán. Vì vậy, cùng với trang bị phương tiện sản xuất, việc thành lập các tổ thu mua, chế biến tạo điều kiện để các thành viên cùng sử dụng thiết bị, tập hợp nguồn nguyên liệu và từng bước hình thành sự liên kết trong sản xuất.
Với bà Hồ Thị Mai, ở bản Đoàn Kết, xã Trường Sơn, máy móc được đưa vào sử dụng giúp giảm bớt những công đoạn thủ công vốn mất nhiều thời gian, công sức, đồng thời tạo điều kiện để chị em tham gia chế biến nông sản ngay tại địa phương. “Có máy móc hỗ trợ, công việc thuận lợi hơn, chị em cũng có điều kiện chế biến, bảo quản nông sản tốt hơn. Chúng tôi mong sản phẩm làm ra ngày càng có chất lượng, bán được giá hơn để có thêm thu nhập cho gia đình”, bà Mai chia sẻ.
Hiệu quả bước đầu còn được thể hiện qua việc đưa sản phẩm tiếp cận thị trường rộng hơn. Tại Hội chợ Công thương vùng Bắc Trung Bộ-Nghệ An năm 2026, các nhóm đã giới thiệu 61 sản phẩm vùng cao, đạt doanh thu hơn 57 triệu đồng; Tổ hợp tác nông sản tại bản Xuân Tiến, xã Trường Sơn bước đầu có thỏa thuận hợp tác tiêu thụ sản phẩm.
Chủ tịch Hội LHPN xã Trường Sơn Trần Thanh Hiền cho biết, điều đáng ghi nhận là chị em ngày càng chủ động hơn trong tham gia các hoạt động của tổ, từ sử dụng thiết bị, chế biến đến giới thiệu sản phẩm. Cùng với hỗ trợ máy móc, việc được tập huấn về tổ chức sản xuất, kinh doanh giúp phụ nữ từng bước nâng cao kỹ năng, tăng sự chủ động và phát huy vai trò trong phát triển kinh tế gia đình. Đây cũng là cơ sở để khai thác tốt hơn những sản vật có lợi thế của địa phương, hướng đến tạo sinh kế bền vững cho phụ nữ dân tộc thiểu số.
Để sinh kế bền vững
Bên cạnh những kết quả bước đầu, để các tổ thu mua, chế biến duy trì hoạt động hiệu quả, vẫn còn những yêu cầu đặt ra trong quá trình tổ chức sản xuất. Đó là nguồn nguyên liệu cần được duy trì, thiết bị phải được khai thác phù hợp, chất lượng sản phẩm được kiểm soát và hoạt động sản xuất phải tính toán được chi phí, doanh thu. Đặc biệt, khả năng tiếp cận thị trường sẽ quyết định sản phẩm có thể duy trì đầu ra và tạo nguồn thu lâu dài hay không.
Ông Trần Đình Hiệp, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, Trưởng ban Dự án cho biết, thời gian tới, dự án tiếp tục phối hợp với các cơ quan chuyên môn, đơn vị kỹ thuật hỗ trợ các tổ vận hành, bảo dưỡng thiết bị; quản lý nguồn nguyên liệu, kiểm soát chất lượng sản phẩm, theo dõi chi phí, doanh thu và xây dựng kế hoạch tái đầu tư. Các tổ sẽ được hỗ trợ hoàn thiện bao bì, nhãn mác, xác định giá bán, xây dựng câu chuyện sản phẩm và kết nối với hội chợ, hợp tác xã, doanh nghiệp, các kênh phân phối phù hợp. Qua đó, từng bước hình thành chuỗi từ nguyên liệu, chế biến, kiểm soát chất lượng đến tiêu thụ, tái đầu tư và mở rộng thị trường.
“Chúng tôi không xem việc trao trang thiết bị, máy móc là đích đến. Điều quan trọng là giúp phụ nữ có đủ kỹ thuật, năng lực lãnh đạo, khả năng quản lý và kết nối thị trường để biến nguồn nông sản sẵn có thành sinh kế ổn định, chủ động và bền vững hơn”, ông Hiệp chia sẻ.
Để các mô hình sinh kế phát huy hiệu quả, điều cần thiết là tiếp tục củng cố mối liên kết giữa sản xuất và thị trường, giúp các tổ từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm và chủ động hơn trong tiêu thụ. Khi những sản vật sẵn có được khai thác phù hợp, chế biến tốt hơn và tìm được chỗ đứng trên thị trường, nguồn lực hỗ trợ sẽ từng bước chuyển thành năng lực tổ chức sản xuất, kinh doanh ngay tại cộng đồng, tạo thêm cơ hội nâng cao thu nhập cho phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi, biên giới.
Nguồn Quảng Trị: https://baoquangtri.vn/xa-hoi/202610/sinh-ke-cho-phu-nu-vung-bien-f7900f7/

