Ngày 24.9, tại phường Lâm Viên – Đà Lạt, Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại và Du lịch tỉnh Lâm Đồng phối hợp với Trung tâm Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức Diễn đàn “Thực hành ESG và Quản trị số: Vé thông hành vào chuỗi giá trị toàn cầu”. Sự kiện thu hút hơn 100 đại biểu gồm các nhà quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp vừa và nhỏ của tỉnh Lâm Đồng.
Ngày 24/9, tại phường Lâm Viên-Đà Lạt, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng tổ chức Diễn đàn “Thực hành ESG và quản trị số: Vé thông hành vào chuỗi giá trị toàn cầu”.
Sáng 24/9, Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại và Du lịch tỉnh Lâm Đồng phối hợp với Trung tâm Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức Diễn đàn “Thực hành ESG và Quản trị số: Vé thông hành vào chuỗi giá trị toàn cầu”.
Sáng 24-9, UBND tỉnh Lâm Đồng phối hợp Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức Diễn đàn thực hành ESG (bộ 3 tiêu chuẩn: môi trường – xã hội – quản trị) và Quản trị số với chủ đề “Vé thông hành vào chuỗi giá trị toàn cầu” với sự tham dự của hơn 100 đơn vị, doanh nghiệp trong nước.
Sáng 24-9, tại phường Lâm Viên-Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với UBND tỉnh Lâm Đồng tổ chức Diễn đàn “Thực hành ESG và Quản trị số: Vé thông hành vào chuỗi giá trị toàn cầu” với sự tham dự của hơn 100 đại biểu gồm các nhà quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp vừa và nhỏ của tỉnh Lâm Đồng.
Đưa tỷ trọng kinh tế số từ 14% lên 30% GDP vào năm 2030 là một thách thức lớn. Bài toán đặt ra hiện nay không dừng ở việc đưa công nghệ vào vận hành, mà nằm ở các giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, hạ tầng dữ liệu và nguồn lực để tạo động lực bứt phá thực chất.
81 năm sau ngày Quốc khánh, Việt Nam đang bước vào một chặng đường phát triển mà những động lực truyền thống không còn đủ để tạo ra dư địa tăng trưởng mới. Bên cạnh đường sá, nhà máy, cảng biển, đất nước cần những “công trình” của thời đại số - dữ liệu, AI, hạ tầng tính toán, nhân lực công nghệ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo - để biến tri thức thành năng suất, công nghệ thành giá trị và đổi mới thành sức cạnh tranh.
Ngày 2-9, trong không khí thiêng liêng của Ngày Quốc khánh 2-9, nhiều chiến sĩ Đồn Biên phòng Phước Hải và Chi bộ quân sự Hồ Tràm ((TPHCM) được vinh dự kết nạp Đảng nhân ngày lễ trọng đại này.
Việc đưa các hoạt động số mang tính cốt lõi vào mô hình sản xuất, kinh doanh có thể tạo ra những thay đổi thực chất về hiệu quả. Quá trình này giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình, cải thiện khả năng xử lý thông tin, khai thác tốt hơn các yếu tố công nghệ, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng lao động.
Kinh tế số Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với dư địa lớn từ dữ liệu, nền tảng số và trí tuệ nhân tạo (AI). Tuy nhiên, thách thức hiện nay không còn là tốc độ tiếp cận công nghệ, mà là khả năng chuyển hóa công nghệ thành năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh.
Sự thay đổi nhanh chóng, liên tục của nền kinh tế số đòi hỏi doanh nghiệp cần có sự linh hoạt, khả năng thích nghi tốt với sự thay đổi để duy trì và tăng cường vị thế trên thị trường.
Để đạt được mục tiêu tỷ trọng phát triển kinh tế số tăng trưởng 30% GDP đến năm 2030, cần phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam trở thành lực lượng nòng cốt; phát huy vai trò dẫn dắt của các doanh nghiệp công nghệ lớn; doanh nghiệp nhà nước thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Tỉ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số (KTS) trong nền kinh tế vẫn giữ đà tăng. Năm 2025, tỉ trọng này ước đạt 14,02%, do đó, cần có chính sách thúc đẩy để KTS phát triển mạnh, đặc biệt ở các địa phương và doanh nghiệp nhỏ.
Kinh tế số Việt Nam đang duy trì tốc độ tăng trưởng cao, song việc chuyển quy mô sang giá trị gia tăng, năng suất và sức cạnh tranh vẫn là bài toán cần tháo gỡ, đặc biệt đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Kinh tế số đã khẳng định vai trò là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế, định hình lực lượng sản xuất hiện đại và là nền tảng đưa Việt Nam tiến xa trong kỷ nguyên mới. Tuy nhiên, để kinh tế số thực sự bứt phá, hàng loạt "điểm nghẽn" về thể chế, tài chính và năng lực triển khai cần sớm được nhận diện và tháo gỡ triệt để...
Tỉ trọng giá trị tăng thêm của Kinh tế số (KTS) trong nền kinh tế vẫn giữ đà tăng. Năm 2025, tỉ trọng này ước đạt 14,02%, do đó, cần có chính sách thúc đẩy để KTS trở thành động lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
Để kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP vào năm 2030 theo Nghị quyết 57-NQ/TW, các chuyên gia cho rằng, Việt Nam cần tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng và nguồn lực để thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi số, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh.
Ngày 14/8, Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức Diễn đàn Kinh doanh 2026 với chủ đề "Tháo gỡ điểm nghẽn, đưa kinh tế số thành động lực tăng trưởng trong kỷ nguyên phát triển mới".
Khi đánh giá đóng góp của kinh tế số vào GDP, không nên chỉ nhìn vào quy mô hay tốc độ tăng trưởng. Điều quan trọng hơn là phải xem xét trong tổng giá trị mà kinh tế số tạo ra, bao nhiêu giá trị thực sự được giữ lại trong nền kinh tế và thuộc về các doanh nghiệp Việt Nam.
Kinh tế số đang đứng trước cơ hội trở thành một động lực tăng trưởng mới của Việt Nam, song để chuyển từ tốc độ phát triển sang đóng góp thực chất cho năng suất và giá trị gia tăng, cần sớm tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, dữ liệu, vốn và nhân lực.
Phát triển hạ tầng số và thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi số sâu rộng, để hướng tới mục tiêu kinh tế số đóng góp tối thiểu 30% GDP vào năm 2030 theo Nghị quyết 57-NQ/TW. Để đạt mục tiêu này, cần tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn, tạo nền tảng để kinh tế số trở thành động lực tăng trưởng mới.
Kinh tế số Việt Nam đang tăng trưởng nhanh, nhưng theo các chuyên gia, thước đo quan trọng không chỉ là tỷ trọng đóng góp vào GDP mà phải là khả năng tạo ra năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh thực chất cho doanh nghiệp.
Chiều 14-8, tại Hà Nội diễn ra Diễn đàn Kinh doanh 2026 với chủ đề “Tháo gỡ điểm nghẽn, đưa kinh tế số thành động lực tăng trưởng trong kỷ nguyên phát triển mới”.
Việc nhận diện trúng những điểm nghẽn, đổi mới tư duy phát triển và tăng cường kết nối giữa các chủ thể trong hệ sinh thái sẽ góp phần đưa kinh tế số trở thành động lực thực chất cho tăng trưởng hai con số.
Kinh tế số đang ngày càng khẳng định vai trò là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của Việt Nam. Tuy nhiên, để chuyển từ tốc độ phát triển sang tạo ra giá trị gia tăng, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh, cộng đồng doanh nghiệp cần được tháo gỡ những điểm nghẽn về vốn, dữ liệu, hạ tầng, nhân lực và thể chế. Đây là vấn đề được đặt ra tại Diễn đàn Kinh doanh 2026 với chủ đề “Tháo gỡ điểm nghẽn, đưa kinh tế số thành động lực tăng trưởng trong kỷ nguyên mới” do Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức ngày 14/8, tại Hà Nội.
Kinh tế số Việt Nam tăng tốc, quy mô đã vượt 72 tỷ USD, nhưng bài toán lớn hơn không nằm ở tốc độ mà ở khả năng chuyển hóa thành năng suất và giá trị thực.
Việt Nam đặt mục tiêu kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP vào năm 2030, đòi hỏi tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng và nguồn lực để thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi số.
Với mục tiêu kinh tế số đóng góp tối thiểu 30% GDP vào năm 2030, các chuyên gia cho rằng, cần sớm tạo đột phá về thể chế, phát triển hạ tầng số và thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi số sâu rộng.
Kinh tế số Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao, nhưng thách thức đặt ra là chuyển quy mô tăng trưởng thành giá trị gia tăng, năng suất và sức cạnh tranh, nhất là với doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế số, tuy nhiên để khu vực này đóng góp tích cực vào mục tiêu tăng trưởng, cần tiếp tục tháo gỡ điểm nghẽn về hạ tầng, thể chế, nguồn nhân lực.
Để kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP vào năm 2030 theo Nghị quyết 57-NQ/TW, các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần tạo đột phá về thể chế, phát triển đồng bộ hạ tầng số, dữ liệu và nguồn nhân lực, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh.
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc yêu cầu các bộ, ngành tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn mà doanh nghiệp nêu như thủ tục hành chính, giảm chi phí logistics, mở rộng thị trường và tăng nội địa hóa để thúc đẩy xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu trong những tháng cuối năm.
Theo Phó thủ tướng, tăng xuất khẩu cũng là một trong những giải pháp để giảm áp lực nhập siêu. Thời gian tới, Chính phủ sẽ tiếp tục làm việc với các doanh nghiệp xuất khẩu lớn để xác định rõ khả năng đóng góp vào tăng trưởng.
Chiều 13/8, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc chủ trì hội nghị rà soát các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu.
Ngày 31/7, Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ IV, nhiệm kỳ 2026-2031.
Đã đến lúc ngành gỗ Việt Nam phải chuyển từ tư duy 'đủ nguyên liệu để sản xuất' sang tư duy 'nguyên liệu phải hợp pháp, minh bạch, có trách nhiệm và bền vững'; từ mục tiêu 'xuất khẩu nhiều' sang 'xuất khẩu giá trị'; từ 'bán gỗ' sang 'xuất khẩu cả hệ sinh thái nội thất và thương hiệu Việt Nam'…
Dù sở hữu gần 5 triệu ha rừng trồng và kim ngạch xuất khẩu gỗ dự kiến vượt 17 tỷ USD trong năm 2026, ngành gỗ Việt Nam vẫn thiếu nguồn gỗ lớn phục vụ chế biến sâu. Các chuyên gia và doanh nghiệp cho rằng, muốn nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, cần sớm quy hoạch vùng nguyên liệu theo lợi thế từng địa phương, xây dựng cơ sở dữ liệu rừng trồng và tận dụng thị trường tín chỉ carbon.
Dẫn đầu Đông Nam Á về xuất khẩu gỗ với kim ngạch hơn 17 tỷ USD, nhưng ngành gỗ Việt Nam đang đối mặt sức ép lớn khi các thị trường đồng loạt siết tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc và phát thải carbon. Muốn chinh phục mục tiêu 25 tỷ USD, doanh nghiệp buộc phải chuyển từ cạnh tranh bằng giá sang cạnh tranh bằng giá trị.
Kim ngạch xuất khẩu gỗ tiếp tục tăng trưởng nhưng để chinh phục mục tiêu 25 tỷ USD vào năm 2030, doanh nghiệp cho rằng điều quan trọng không chỉ là đầu tư công nghệ mà còn phải xây dựng vùng nguyên liệu ổn định, có chứng chỉ bền vững và đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc của các thị trường xuất khẩu.
Ngành chế biến gỗ chiếm một vị trí quan trọng trong các ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam khi kim ngạch luôn đạt trung bình hơn 10 tỷ USD/năm trong giai đoạn gần đây. Tuy nhiên, thị trường quốc tế đã có nhiều yêu cầu mới, đòi hỏi ngành gỗ phải có bước phát triển nguyên liệu bền vững hơn.
Chiều 23/7, tại Hà Nội, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức Diễn đàn “Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy phát triển nguyên liệu bền vững cho ngành gỗ chế biến sâu”. Sự kiện nhằm tìm giải pháp tháo gỡ các điểm nghẽn về phát triển vùng nguyên liệu cho ngành gỗ.
Xuất khẩu gỗ Việt Nam tiếp tục tăng trưởng, nhưng phía sau là nghịch lý phần lớn rừng trồng vẫn bị khai thác sớm để bán dăm gỗ, khiến ngành chế biến sâu thiếu nguyên liệu, khó đáp ứng các tiêu chuẩn xanh và nâng giá trị gia tăng.
Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc..,, việc xây dựng nguồn nguyên liệu hợp pháp, chất lượng cao đang trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của ngành gỗ Việt Nam. Đây cũng là nội dung trọng tâm được các chuyên gia, cơ quan quản lý và doanh nghiệp trao đổi tại Diễn đàn 'Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy phát triển nguyên liệu bền vững cho ngành gỗ chế biến sâu' do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chỉ đạo, Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức ngày 23/7, tại Hà Nội.
Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về nguồn gốc hợp pháp, truy xuất xuất xứ và phát triển xanh, bài toán nguyên liệu không còn đơn thuần là bảo đảm nguồn cung mà đã trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành gỗ Việt Nam.
Chiều 23-7, tại Hà Nội, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức diễn đàn 'Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy phát triển nguyên liệu bền vững cho ngành gỗ chế biến sâu' trong bối cảnh rào cản thương mại và chi phí logistics tăng cao.
Phát triển nguồn nguyên liệu bền vững, đẩy mạnh chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn và kinh tế carbon là những giải pháp quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành gỗ Việt Nam, tạo nền tảng đưa Việt Nam thành trung tâm chế biến gỗ xanh, phục vụ sản xuất nội thất chất lượng cao của khu vực và thế giới.