Từ việc loại trừ dư nợ của 18 dự án trọng điểm trị giá khoảng 752.000 tỷ đồng khỏi hạn mức tăng trưởng tín dụng đến điều chỉnh các chỉ tiêu quản trị thanh khoản của hệ thống ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước đang phát đi tín hiệu rõ ràng về việc mở rộng không gian cho dòng vốn.
Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
Theo Mirae Asset, việc NHNN nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn và điều chỉnh cách tính LDR sẽ mở rộng dư địa tín dụng cho ngân hàng, đồng thời hỗ trợ bất động sản, hạ tầng và vật liệu xây dựng.
Việc nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40% được kỳ vọng tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, đồng thời mở ra cơ hội mới cho nhiều cổ phiếu ngân hàng...
Theo đánh giá của Vietcap, những thay đổi trong Thông tư 25 sẽ hỗ trợ thanh khoản hệ thống, giảm chi phí vốn và tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng cho ngành ngân hàng.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã quyết định điều chỉnh tăng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, áp dụng từ ngày 01/7/2026.
Việc Ngân hàng Nhà nước nới một số quy định về an toàn vốn giúp các nhà băng có thêm dư địa tăng trưởng, nhưng áp lực thanh khoản vẫn là thách thức chưa dễ hóa giải...
Các chuyên gia nhận định, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn lên 40% sẽ tạo dư địa cho vốn tín dụng đổ vào nền kinh tế, các lĩnh vực đều được hưởng lợi.
Chính sách mới của Ngân hàng Nhà nước nâng trần lên 40% giúp ngân hàng linh hoạt hơn trong sử dụng vốn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu tín dụng trung và dài hạn của nền kinh tế.
Các ngân hàng đang phải đối mặt với bài toán cân bằng giữa mở rộng tín dụng, kiểm soát rủi ro và giữ chân khách hàng trong cuộc đua tăng trưởng chất lượng, nhận định từ một báo cáo nghiên cứu độc lập.
Việc nâng trần sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được kỳ vọng tạo thêm dư địa cung ứng vốn cho nền kinh tế, song cũng đặt ra yêu cầu kiểm soát chặt chẽ rủi ro thanh khoản trong hệ thống ngân hàng.
Hàng loạt chính sách mới về tỷ lệ an toàn, nới trần sở hữu ngoại, xử lý nợ xấu.. không chỉ giúp các nhà băng tối ưu hóa hàng trăm nghìn tỷ đồng mà còn mở ra thời kỳ bùng nổ lợi nhuận cho những cái tên dẫn đầu thị trường.
Các ngân hàng được sử dụng tối đa 40% vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn, thay vì mức 30% hiện hành.
Việc nới giới hạn từ 30% lên 40% giúp các ngân hàng có thêm khả năng linh hoạt trong phân bổ nguồn vốn
Việc nhà điều hành cho phép sử dụng nhiều vốn ngắn hạn hơn cho các hoạt động tín dụng trung và dài hạn được kỳ vọng sẽ giúp giảm áp lực tái cơ cấu kỳ hạn đối với NHTM, đồng thời mang lại tác động tích cực đối với biên lãi ròng (NIM).
Từ ngày 1/7/2026, các ngân hàng sẽ được sử dụng tối đa 40% nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn, thay vì 30% như hiện nay.
Số liệu của Bộ Tài chính cho thấy, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công trong 5 tháng đầu năm đạt 21,6% kế hoạch. Dù tỷ lệ còn thấp, quy mô tuyệt đối đã tăng 34.816 tỷ đồng, tương ứng tăng 18,9% so với cùng kỳ. Dòng vốn đã chuyển động nhanh hơn, nhưng chưa tương xứng với tổng kế hoạch đầu tư công năm 2026 lên tới 1,08 triệu tỷ đồng.
Từ ngày 1/7, các ngân hàng được sử dụng tối đa 40% vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn, thay vì mức 30% hiện hành.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chính thức ban hành Thông tư số 25/2026/TT-NHNN liên quan đến các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng.
Ngày 22/6, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ký ban hành Thông tư số 25/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Ngân hàng Nhà nước chính thức nâng tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn lên 40%.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư 25/2026, nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40%, đồng thời điều chỉnh quy định LDR, góp phần ổn định vĩ mô, áp dụng từ 1/7/2026.
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa ban hành Thông tư số 25/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, có hiệu lực từ ngày 1-7-2026. Vietcombank, BIDV và VietinBank là nhóm được hưởng lợi lớn nhất từ Thông tư 25/2026/TT-NHNN.
Từ 1/7, nhà điều hành sẽ nới quy định tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40%, đây được đánh giá là một động thái hỗ trợ cho tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh hiện tại.
Từ ngày 1/7/2026, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chính thức nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%. Đồng thời, cơ quan quản lý cũng điều chỉnh cách xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR), tạo thêm dư địa hoạt động cho các tổ chức tín dụng trong khi vẫn bảo đảm an toàn hệ thống.
Việc NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng tạo thêm dư địa cung ứng vốn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, cơ hội mở rộng tín dụng cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về quản trị thanh khoản, kiểm soát chênh lệch kỳ hạn và lựa chọn đúng những lĩnh vực có khả năng tạo ra năng lực sản xuất mới.
Ngân hàng Nhà nước chính thức nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, đồng thời điều chỉnh cách tính tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR). Quy định mới được kỳ vọng tạo thêm dư địa cho các ngân hàng mở rộng tín dụng, đặc biệt ở các lĩnh vực cần nguồn vốn dài hạn như sản xuất, kinh doanh và bất động sản.
Ngày 22/6/2026, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 25/2026/TT-NHNN, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, trong đó, nổi bật là việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, sau chưa đầy 1 tuần công bố dự thảo để lấy ý kiến. Động thái mới được kỳ vọng mở rộng dư địa cấp vốn trung dài hạn cho nền kinh tế.
Nhiều tổ chức phân tích cho rằng dư địa giảm lãi suất trong năm 2026 không còn nhiều. Áp lực thanh khoản, nhu cầu tín dụng gia tăng cùng yêu cầu ổn định tỷ giá đang tạo ra bài toán cân bằng ngày càng khó cho chính sách tiền tệ.
Lần đầu tiên sau nhiều năm, Ngân hàng Nhà nước đề xuất nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn. Quyết định này được xem là chiếc 'phao cứu sinh' cho thanh khoản kỳ hạn, giúp giải phóng nguồn lực khổng lồ đang bị bó hẹp bởi các quy định an toàn vốn.
Đề xuất nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tại Dự thảo mới đây được kỳ vọng sẽ tạo thêm dư địa cho hệ thống ngân hàng mở rộng tín dụng, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, bài toán kiểm soát rủi ro thanh khoản và mất cân đối kỳ hạn tiếp tục là vấn đề cần đặc biệt lưu tâm.
Dù kết quả kinh doanh toàn ngành vẫn được hỗ trợ bởi tín dụng tăng trưởng hai con số, dự báo NIM ngân hàng nhiều khả năng sẽ tiếp tục chịu áp lực thu hẹp. Trong bối cảnh đó, các chuyên gia hướng đến cách tiếp cận chọn lọc hơn.
MBS Research cho rằng thanh khoản hệ thống nhiều khả năng tiếp tục ở trạng thái căng thẳng trong nửa cuối năm khi LDR của các ngân hàng vẫn duy trì ở mức cao. Trong khi đó, VDSC chỉ ra một số yếu tố có thể hạ nhiệt bớt 'cơn khát' thanh khoản về cuối năm,dù lưu ý rằng các yếu tố hỗ trợ vẫn cần có thời gian để lan tỏa.
Tăng trưởng tín dụng trung dài hạn tích cực trong năm 2025 (khoảng 27%) đã đẩy tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn tại nhiều ngân hàng lên cao.
Sau gần ba năm áp dụng mức trần 30%, Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn trở lại 40%. Đồng thời, điều chỉnh cách tính tỷ lệ LDR, trong đó, cho phép áp dụng một tỷ lệ khác đối với tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước từng thời kỳ.
Ngân hàng Nhà nước vừa đề xuất nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, đồng thời điều chỉnh cách tính tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR). Động thái này được đánh giá là giúp các ngân hàng có thêm dư địa mở rộng tín dụng và giảm áp lực huy động vốn dài hạn.