Nhiều tổ chức phân tích cho rằng dư địa giảm lãi suất trong năm 2026 không còn nhiều. Áp lực thanh khoản, nhu cầu tín dụng gia tăng cùng yêu cầu ổn định tỷ giá đang tạo ra bài toán cân bằng ngày càng khó cho chính sách tiền tệ.
Lần đầu tiên sau nhiều năm, Ngân hàng Nhà nước đề xuất nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn. Quyết định này được xem là chiếc 'phao cứu sinh' cho thanh khoản kỳ hạn, giúp giải phóng nguồn lực khổng lồ đang bị bó hẹp bởi các quy định an toàn vốn.
Đề xuất nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tại Dự thảo mới đây được kỳ vọng sẽ tạo thêm dư địa cho hệ thống ngân hàng mở rộng tín dụng, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, bài toán kiểm soát rủi ro thanh khoản và mất cân đối kỳ hạn tiếp tục là vấn đề cần đặc biệt lưu tâm.
Dù kết quả kinh doanh toàn ngành vẫn được hỗ trợ bởi tín dụng tăng trưởng hai con số, dự báo NIM ngân hàng nhiều khả năng sẽ tiếp tục chịu áp lực thu hẹp. Trong bối cảnh đó, các chuyên gia hướng đến cách tiếp cận chọn lọc hơn.
MBS Research cho rằng thanh khoản hệ thống nhiều khả năng tiếp tục ở trạng thái căng thẳng trong nửa cuối năm khi LDR của các ngân hàng vẫn duy trì ở mức cao. Trong khi đó, VDSC chỉ ra một số yếu tố có thể hạ nhiệt bớt 'cơn khát' thanh khoản về cuối năm,dù lưu ý rằng các yếu tố hỗ trợ vẫn cần có thời gian để lan tỏa.
Tăng trưởng tín dụng trung dài hạn tích cực trong năm 2025 (khoảng 27%) đã đẩy tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn tại nhiều ngân hàng lên cao.
Sau gần ba năm áp dụng mức trần 30%, Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn trở lại 40%. Đồng thời, điều chỉnh cách tính tỷ lệ LDR, trong đó, cho phép áp dụng một tỷ lệ khác đối với tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước từng thời kỳ.
Ngân hàng Nhà nước vừa đề xuất nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, đồng thời điều chỉnh cách tính tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR). Động thái này được đánh giá là giúp các ngân hàng có thêm dư địa mở rộng tín dụng và giảm áp lực huy động vốn dài hạn.
Dự thảo sửa đổi Thông tư 22/2019/TT-NHNN đang được Ngân hàng Nhà nước lấy ý kiến với nhiều điều chỉnh liên quan đến các tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng; trong đó, đáng chú ý là đề xuất nới trần sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, cùng một số điều chỉnh về cách tính chỉ tiêu an toàn hệ thống.
Sau gần 3 năm áp dụng mức trần 30%, NHNN đề xuất nâng tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn lên 40%. Đây được xem là bước đi nhằm tăng khả năng cung ứng tín dụng, phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026-2030.
Ngân hàng Nhà nước đề xuất nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% giúp gia tăng khả năng mở rộng tín dụng trung và dài hạn.
Ngân hàng Nhà nước đề xuất tăng trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40%, nhằm thúc đẩy tăng trưởng tín dụng và mở rộng vốn vay.
Ngân hàng Nhà nước đang đề xuất nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40%, qua đó đảo chiều lộ trình siết chặt kéo dài trong nhiều năm qua.
Ngày 17/6, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) lấy ý kiến dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 22/2019/TT-NHNN về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Trước áp lực chi phí vốn tăng khi lãi suất huy động, lãi suất liên ngân hàng và lãi suất phát hành trái phiếu cùng tăng lên mặt bằng mới, NIM ngân hàng tiếp tục chịu sức ép. Dù vậy, Chứng khoán Shinhan vẫn kỳ vọng lợi nhuận trước thuế toàn ngành tăng 17% năm 2026 và 16% năm 2027; đồng thời, cảnh báo nợ xấu có thể tăng nếu mặt bằng lãi suất neo cao.
Thị trường tiền gửi ghi nhận những tín hiệu tăng nhiệt trong tuần qua khi một số ngân hàng điều chỉnh lãi suất huy động, đặc biệt ở các kỳ hạn trung và dài hạn.
Dù Ngân hàng Nhà nước (NHNN) liên tục phát đi các thông điệp và yêu cầu hệ thống tổ chức tín dụng giảm lãi suất nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên mặt bằng lãi suất huy động thực tế vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.
Dư nợ tín dụng đã tương đương 140 - 150% GDP, phản ánh lượng tiền rất lớn được bơm vào nền kinh tế nhưng tăng trưởng tín dụng ở mức thấp, lãi suất bị đẩy cao, cho thấy vòng quay đồng tiền đang rất chậm.
ABS cho rằng tín dụng năm 2026 vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực, nhưng động lực đang dịch chuyển từ giai đoạn phục hồi sang đầu tư công, hạ tầng và các dự án PPP, trong khi lợi nhuận ngành được kỳ vọng tiếp tục tăng trưởng hai chữ số…
Một phần đáng kể tiền giải ngân ra đã rò khỏi hệ thống ngân hàng thay vì quay về tái tạo nguồn vốn...
Áp lực tỷ giá, lạm phát và thanh khoản đang thu hẹp dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ. Trong khi đó, bài toán lớn của nền kinh tế hiện nay không chỉ là nguồn vốn, mà còn là khả năng hấp thụ vốn hiệu quả.
Trước các cú sốc toàn cầu năm 2026, Việt Nam đứng trước bài toán tiền tệ khó: Duy trì lãi suất cao để giữ tỷ giá hay chấp nhận đồng nội tệ mất giá để ưu tiên tăng trưởng?
Theo chuyên gia, nếu trước đây tiền gửi của doanh nghiệp và cá nhân ở mức tương đương, hiện nay tiền gửi cá nhân đã vượt lên và cao hơn khoảng 10%. Các doanh nghiệp giảm nắm giữ tiền gửi không kỳ hạn, chuyển sang tiền gửi có kỳ hạn hoặc dịch chuyển dòng tiền sang khu vực cá nhân để hưởng lãi suất cao hơn.
Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) đánh giá tình trạng thanh khoản căng thẳng bắt nguồn từ sự cộng hưởng của ba yếu tố: cầu tín dụng tăng tốc mạnh - đặc biệt kỳ hạn trung dài hạn; huy động vốn bị hút ra khỏi hệ thống bởi NSNN bội thu và tỷ trọng tiền mặt tăng; trong khi NHNN buộc phải thu hẹp bơm OMO do dư địa tỷ giá và lạm phát bị siết chặt.
Dù mặt bằng lãi suất huy động đã được đẩy lên mức cao nhất trong vòng 3 năm qua với những cuộc đua tăng giá chóng mặt, hệ thống ngân hàng vẫn đang đối mặt với tình trạng tăng trưởng tiền gửi ì ạch và sự sụt giảm thanh khoản đáng báo động.
Thị trường chứng khoán đang bước vào giai đoạn mới khi chu kỳ tiền rẻ dần khép lại. Tuy nhiên, 'tiền mặt khan hiếm' không đồng nghĩa với việc toàn bộ dòng vốn rời bỏ thị trường.
Thanh khoản hệ thống ngân hàng tiếp tục chịu áp lực khi tín dụng tăng 5,71% tính đến cuối tháng 5, vượt xa tốc độ huy động vốn và khiến chênh lệch giữa tín dụng - huy động ngày càng nới rộng. Tuy nhiên, giới phân tích kỳ vọng, nguồn vốn huy động sẽ cải thiện dần từ cuối năm 2026 nhờ sự hỗ trợ của nhiều động lực trong và ngoài hệ thống.
Biểu lãi suất mới của BIDV ghi nhận mức giảm tới 0,8 điểm % ở một số kỳ hạn dài, đưa lãi suất cao nhất xuống còn 6,8%/năm.
Công ty chứng khoán dự báo áp lực thanh khoản hệ thống ngân hàng sẽ tiếp tục duy trì ở mức căng thẳng, và mặt bằng lãi suất khó có thể hạ nhiệt một cách bền vững. Đây là rủi ro cần được phản ánh vào chi phí vốn của các Ngân hàng thương mại và toàn nền kinh tế trong các quý còn lại của năm 2026.
Trong phiên giao dịch hôm qua, chứng khoán lao dốc giảm hơn 48 điểm, trong khi giá vàng cũng mất tới 7 triệu đồng mỗi lượng. Đây là diễn biến hiếm thấy trên thị trường tài chính.
Dù kết quả kinh doanh vẫn duy trì tăng trưởng, SSI Research cho rằng ngành ngân hàng đang bước vào giai đoạn phân hóa mạnh hơn khi áp lực thanh khoản, biên lãi ròng và chất lượng tài sản đồng loạt gia tăng…
Thị trường đã bắt đầu xuất hiện nhiều hơn các cơ hội đơn lẻ với định giá giảm dần về vùng hấp dẫn, nhưng trong xu hướng lãi suất tăng và thanh khoản vẫn ngày càng thắt chặt, những cơ hội thực sự lớn trên toàn thị trường vẫn chưa lộ diện...