HNN - Ngày Giải phóng Thủ đô 10/10/1954 đánh dấu bước ngoặt quan trọng, khẳng định thắng lợi hoàn toàn của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử ngàn năm văn hiến của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội.
Văn bản đầu tiên và quan trọng nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là “Tuyên ngôn độc lập” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945. Tiêu ngữ "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc" cũng do Cụ Hồ đề xuất, bắt đầu bằng từ “Độc lập”. Trước đó, trong những ngày sục sôi khí thế cách mạng mùa hè năm 1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh căn dặn đồng chí Võ Nguyên Giáp: "Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập". Năm 1966, trong “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước”, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”.
Hội nghị quân sự Trung Giã (từ ngày 4 đến 27-7-1954) là cuộc đàm phán chính thức đầu tiên giữa Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ Tổng chỉ huy các lực lượng Liên hiệp Pháp tại Đông Dương. Diễn ra song song với Hội nghị Geneva, Hội nghị quân sự Trung Giã (Hội nghị Trung Giã) giữ vai trò giải quyết các vấn đề quân sự cụ thể để hiện thực hóa các thỏa thuận chính trị, góp phần quan trọng vào việc ký kết Hiệp định Geneva năm 1954, chấm dứt chiến tranh, buộc Pháp rút quân khỏi Đông Dương và lập lại hòa bình ở Việt Nam, Lào, Campuchia.
Ngày 6.3 ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng trong lịch sử Việt Nam và thế giới, nổi bật là việc ký Hiệp định Sơ bộ Pháp - Việt năm 1946, một mốc son của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Bên cạnh đó là những sự kiện về văn học, khoa học và thể thao có ảnh hưởng sâu rộng.
Tròn 80 năm Hiệp định sơ bộ (6/3/1946 - 6/3/2026) là dịp để chúng ta cùng gợi nhớ lại một mốc son chói lọi, một kỳ tích khởi đầu quá trình phát triển của nền ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh. Những giá trị lịch sử của Hiệp định vẫn còn vẹn nguyên ý nghĩa cho tới ngày nay.
Công tác quan trọng đầu tiên của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam sau khi thành lập là phát hành giấy bạc mới (gọi là tiền ngân hàng) và tiến hành công tác đổi tiền ngân hàng thay cho các loại tiền tài chính trước kia. Việc thu đổi tiền tài chính và phát hành tiền ngân hàng thực chất là một cuộc cải cách tiền tệ, chuyển từ 'chế độ tiền tệ quốc khố' sang 'chế độ tiền tệ tín dụng'.
Từ tháng 9/1945, thực dân Pháp đã sử dụng nhiều phương án để vãn hồi sự hiện diện của mình trên bán đảo Đông Dương, trong đó có việc dùng ảnh hưởng và hình ảnh của Hoàng đế vừa thoái vị là Bảo Đại (Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy) làm công cụ để đối đầu với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, tại thời điểm đó Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy đã nhận lời làm cố vấn cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên khó có thể tiếp cận để đạt được mục đích trên. Tháng 3/1946, Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy bỏ trốn và ở lại Hồng - Kông.
Ngày 30/8/1945, sau Cách mạng Tháng Tám, Bảo Đại thoái vị, làm cố vấn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 8/3/1949, ông ký với Tổng thống Pháp thỏa thuận công nhận Việt Nam, Lào, Campuchia độc lập trong Liên bang Đông Dương thuộc Liên hiệp Pháp. Từ đó, Pháp ngừng phát hành tiền Đông Dương, năm 1951 cho phép ba nước phát hành riêng, lưu thông chung. Ở Việt Nam, thời Bảo Đại có bộ tiền nhôm 1953 mệnh giá 10, 20, 50 xu, hay còn gọi là 'đồng xu Ba cô'. Đồng 50 xu: mặt trước ba thiếu nữ, dòng 'QUỐC GIA VIỆT NAM' và năm 1953; mặt sau ghi mệnh giá, và chữ 'VIỆT NAM'.
Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp tái chiếm Sài Gòn, sau đó mở rộng ra đánh chiếm toàn Nam Bộ, khôi phục lại chế độ thực dân cai trị ở miền Nam. Ngân hàng Đông Dương được khôi phục lại ở Nam Kỳ và tiếp tục phát hành tiền tệ trong vùng chiếm đóng.
Mỗi độ thu về, Hà Nội lại ngân vang ký ức của mùa thu năm 1954 - mùa thu lịch sử, khi đoàn quân chiến thắng trở về trong niềm hân hoan của hàng vạn con tim.
Với 103 năm tuổi đời, hơn 80 năm hoạt động cách mạng, trong đó có hơn 30 năm trên cương vị Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Bí thư Quân ủy Trung ương, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có nhiều công lao to lớn và cống hiến đặc biệt xuất sắc đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Đặc biệt, tinh thần chiến đấu kiên định vì nước, vì dân, giàu lòng nhân ái, luôn nêu cao tư tưởng nhân văn, yêu chuộng hòa bình đã tạo nên vị tướng vì hòa bình Võ Nguyên Giáp.
Trong bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 10 lần nhắc đến 'tự do', 6 lần nhắc đến 'độc lập'. Trong 10 lần nhắc đến 'tự do' có 5 lần nói về quyền tự do/tự do cá nhân, 4 lần đề cập tự do quốc gia - dân tộc. Cả 6 lần 'độc lập' được Người nhắc đến là độc lập cho quốc gia - dân tộc.
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ Lâm thời, trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước toàn thể nhân dân Việt Nam và thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong bản Tuyên ngôn Độc lập, Người nhiều lần nhắc đến hai từ 'độc lập', 'tự do'.
Ngày 21/7/1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam được ký kết, mở ra một trang mới trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam. Trải qua 71 năm, những bài học từ đàm phán, ký kết và thực thi Hiệp định Giơ-ne-vơ vẫn còn nguyên giá trị đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.
Tối 16-5, tại TP Quy Nhơn, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bình Định tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm cán bộ, chiến sĩ, đồng bào và học sinh miền Nam hoàn thành việc chuyển quân tập kết ra miền Bắc tại Quy Nhơn 16-5 (1955 – 2025).
Tối 16/5, tại TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm hoàn thành việc chuyển quân tập kết ra Bắc của cán bộ, chiến sĩ, đồng bào và học sinh miền Nam tại Quy Nhơn (16/5/1955 - 16/5/2025).
Chiều 16-5, trong khuôn khổ chuyến công tác tại Bình Định, các đồng chí: Nguyễn Trọng Nghĩa - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; Võ Thị Ánh Xuân - Phó Chủ tịch nước, cùng lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương và địa phương đã đến dâng hoa tại Di tích Cảng Quy Nhơn (TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định) – địa điểm 300 ngày chuyển quân tập kết ra Bắc.
VietNamNet trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Bí thư Tỉnh ủy Bình Định Hồ Quốc Dũng tại Lễ kỷ niệm 70 năm hoàn thành việc chuyển quân tập kết ra miền Bắc tại Quy Nhơn.
Cảng Quy Nhơn - niềm kiêu hãnh của người dân Quy Nhơn (Bình Định) về mặt giao thông, giao thương, và bề dày lịch sử gắn với nhiều sự kiện lớn của dân tộc vừa được xếp hạng là Di tích quốc gia.
Bộ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Văn Hùng vừa ký quyết định số 1361/QĐ-BVHTTDL xếp hạng di tích lịch sử Cảng Quy Nhơn – Địa điểm 300 ngày chuyển quân tập kết ra Bắc (1954 - 1955) phường Hải Cảng, TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định là di tích quốc gia.
Đầu năm mới, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông giới thiệu bộ 3 cuốn sách lịch sử đồ sộ 'Các văn kiện giữa Chính phủ Pháp và Chính quyền Bảo Đại', 'Đông Dương cuộc chiến tiền tệ 1946-1954' và 'Việt Nam hồi ức từ chiến trường 1946-1954'.
Sự kiện đưa cán bộ, chiến sỹ, đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc là một quyết định mang tầm chiến lược, đây không chỉ là đợt chuyển quân thông thường mà còn là chủ trương, chính sách về quản lý, đãi ngộ, sử dụng và bồi dưỡng - đào tạo đội ngũ cán bộ, chiến sĩ vừa góp phần cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa chuẩn bị lực lượng cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Tối 16/11, tại Khu lưu niệm đồng bào, cán bộ, chiến sĩ và học sinh miền nam tập kết ra bắc ở phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa tổ chức các hoạt động kết nối với điểm cầu truyền hình Cà Mau, Hải Phòng, chuyển tải chương trình cầu truyền hình 'Tập kết ra bắc-tình sâu nghĩa nặng'.
Những ngày này cách đây 70 năm, tại tỉnh Cà Mau - vùng đất thiêng liêng nơi cực Nam của Tổ quốc đã diễn ra sự kiện đặc biệt: 200 ngày tập kết, chuyển quân ra miền Bắc.
Chúng tôi tiến vào thị trấn Cà Mau lúc 2 giờ chiều ngày 23/8/1954. Hôm qua, giặc Pháp đã rút toàn bộ lực lượng (kể cả ngụy quyền) về Bạc Liêu, trong khi chúng chưa bàn giao chính quyền với ta. Bởi vậy, đồng bào tại đây phải sống trọn một đêm chờ đợi.
Hội nghị quân sự Trung Giã diễn ra từ ngày 4 đến 27-7-1954 tại thôn Xuân Sơn, xã Trung Giã, huyện Đa Phúc, tỉnh Vĩnh Phúc (nay thuộc huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội) giữa Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ Tổng Chỉ huy các lực lượng Liên hiệp Pháp tại Đông Dương. Tại đây, hai bên đã đàm phán và thống nhất giải quyết vấn đề ngừng bắn, trao trả tù binh, lập lại hòa bình ở Đông Dương... Đến nay, sau 70 năm, những kết quả đạt được tại Hội nghị Trung Giã vẫn còn nguyên giá trị; xứng đáng là trang sử vàng của nền ngoại giao quân sự Việt Nam.
Trong khi Hội nghị Geneva đi vào giai đoạn cuối cùng, từ ngày 4 đến 27-7-1954, Hội nghị quân sự giữa Đoàn đại biểu Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam và Đoàn đại biểu Bộ Tổng chỉ huy các lực lượng Liên hiệp Pháp ở Đông Dương họp tại Trung Giã, huyện Đa Phúc (nay là huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội) bàn và đề xuất các vấn đề quân sự do Hội nghị Geneva đặt ra; bàn và quyết định biện pháp thực hiện những vấn đề quân sự mà Hội nghị Geneva đã thỏa thuận, trong đó có chuyển giao Thủ đô Hà Nội theo những nguyên tắc của ta.
Trung tướng Phạm Hồng Cư - một trong những người có mặt trong đoàn quân cách mạng tiến về tiếp quản Hà Nội cách đây 70 năm từng chia sẻ: 'Với đồng bào cả nước, đó là Ngày giải phóng Thủ đô. Với chúng tôi, đó còn là ngày trở về lịch sử, ngày hoàn thành lời thề nguyện: 'Ra đi, hẹn một ngày về'. Nhưng để có phút giây trở về lịch sử ấy, quân dân Thủ đô đã phải trải qua 80 ngày đêm đấu tranh chính trị vô cùng cam go.
Theo Hiệp định Geneva ký ngày 21-7-1954, một số khu vực ở miền bắc nước ta trở thành vùng tập kết, chuyển quân của quân đội Liên hiệp Pháp, trong đó có Hà Nội, với thời gian là 80 ngày.
Ngày 30/7, Bộ Quốc phòng phối hợp Thành ủy Hà Nội, huyện Sóc Sơn, Viện Lịch sử quân sự tổ chức Hội thảo khoa học '70 năm Hội nghị quân sự Trung Giã - Giá trị lịch sử và bài học'.
Được sự đồng ý của Bộ Quốc phòng và Thành ủy Hà Nội, sáng ngày 30/7, Viện Lịch sử Quân sự phối hợp Ban Tuyên Giáo Thành ủy Hà Nội và Huyện ủy Sóc Sơn tổ chức Hội thảo Khoa học '70 năm Hội nghị quân sự Trung Giã - Giá trị lịch sử và bài học'.
Nhiều chuyên gia, học giả, dù góc nhìn khác nhau, nhưng cùng gặp nhau trong luận điểm, cuộc xung đột ở Ukraine và Dải Gaza, sớm hay muộn, rồi cũng kết thúc trên bàn đàm phán.
Trải qua 75 ngày (từ ngày 8-5 đến 21-7-1954) đàm phán căng thẳng và phức tạp với 7 phiên toàn thể và 24 phiên họp cấp trưởng đoàn, Hiệp định Geneva đã được ký kết. Đây là quá trình đấu trí, đấu lực thể hiện trí tuệ và bản lĩnh của ngoại giao Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Lập trường đàm phán của Việt Nam trong việc giải quyết chiến tranh ở Đông Dương gồm tám điểm.