Qua khảo sát của tổ chức Công đoàn, có 98% lao động nữ di cư được khám sức khỏe định kỳ tại doanh nghiệp. Trong đó, tỷ lệ được khám định kỳ 2 lần/năm đã tăng (chiếm 53,5%), còn lại 46,5% lao động được khám 1 lần/năm. Thông tin trên được đề cập trong Báo cáo khảo sát 'Về thực trạng đời sống và thực hiện quyền nuôi dưỡng, chăm sóc con nhỏ của lao động nữ di cư tại các khu công nghiệp, khu chế xuất' vừa được công bố.
Trong báo cáo khảo sát 'Về thực trạng đời sống và thực hiện quyền nuôi dưỡng, chăm sóc con nhỏ của lao động nữ di cư tại các khu công nghiệp, chế xuất' do Ban Nữ công Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thực hiện, một vấn đề đặt ra là đời sống khó khăn, tình trạng ly thân, ly hôn trong lao động nữ di cư.
Hơn 70% lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất là nữ. Trong đó, nữ lao động di cư chiếm tỷ trọng lớn. Họ đã và đang góp phần tích cực vào phát triển kinh tế của địa phương thì bản thân lại gặp nhiều khó khăn về vật chất, tinh thần: Sống trong những căn nhà trọ chật hẹp, phải xa con cái, chi tiêu dè sẻn… Do đó, cần có những chính sách hỗ trợ đối với nữ lao động tại các khu công nghiệp.
Nhiều lao động nữ di cư phải chấp nhận cuộc sống xa con, ly hôn, nuôi con một mình.
Một số nữ lao động di cư có cuộc sống bấp bênh, thu nhập không đủ trang trải cuộc sống. Họ phải ở trong những khu phòng trọ chật chội, không đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu. Đặc biệt, nhiều người phải gửi con về quê nên khó khăn trong việc chăm sóc, nuôi dạy con.
Đối với lao động nữ di cư, lý do chính khi nhận bảo hiểm xã hội một lần là muốn có một khoản cho gia đình.
Thu nhập không đủ trang trải cuộc sống và thiếu tích lũy, khiến gần 40% lao động nữ di cư chọn thắt chặt chi tiêu bằng cách cắt giảm các khoản không cần thiết như ăn uống, giải trí; thậm chí khoảng 10% phải vay mượn từ người thân, bạn bè, các tổ chức tín dụng khi gặp khó khăn về tài chính…
Vì những điều kiện chưa thuận lợi nên phần đông lao động nữ di cư phải chấp nhận cuộc sống xa con.
Ngày 15/12, tại Hà Nội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam công bố kết quả khảo sát về 'Về thực trạng đời sống và thực hiện quyền nuôi dưỡng, chăm sóc con nhỏ của lao động nữ di cư tại các khu công nghiệp, khu chế xuất'.