Y học cổ truyền sắp phủ kín trạm y tế, tăng gấp đôi chi trả bảo hiểm

Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu 100% trạm y tế cấp xã đủ năng lực cung ứng dịch vụ y học cổ truyền, đồng thời tăng ít nhất gấp đôi tổng chi từ quỹ bảo hiểm y tế cho lĩnh vực này so với năm 2025.

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, định hướng kết hợp hài hòa y học cổ truyền với y học hiện đại trong chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Hướng tới đưa y học cổ truyền đến gần người dân

Một trong những mục tiêu đáng chú ý là đến năm 2030, toàn bộ trạm y tế cấp xã có đủ năng lực cung ứng dịch vụ y học cổ truyền. Trong đó, ít nhất 90% trạm có cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng về lĩnh vực này và 20% có bác sĩ y học cổ truyền.

Ở tuyến tỉnh, 100% địa phương có bệnh viện y học cổ truyền; 70% bệnh viện y học cổ truyền cấp tỉnh đạt quy mô tối thiểu 300 giường bệnh.

Chiến lược cũng hướng tới tích hợp y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Theo đó, 100% bệnh viện lão khoa có khoa y học cổ truyền; khoa lão tại các bệnh viện đa khoa cấp tỉnh kết hợp phương pháp này trong chăm sóc và phục hồi chức năng cho người cao tuổi.

Tỷ lệ khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền hoặc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại được đặt mục tiêu đạt tối thiểu 10% ở cấp chuyên sâu, 20% ở cấp cơ bản và 30% ở cấp ban đầu.

Tỷ lệ khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền hoặc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại được đặt mục tiêu đạt tối thiểu 10% ở cấp chuyên sâu, 20% ở cấp cơ bản và 30% ở cấp ban đầu.

Đáng chú ý, tổng chi phí từ quỹ bảo hiểm y tế dành cho khám, chữa bệnh y học cổ truyền đến năm 2030 phải tăng tối thiểu gấp đôi so với năm 2025. Đây là mục tiêu về tổng chi trả của quỹ, không đồng nghĩa mức thanh toán cho từng dịch vụ sẽ tăng gấp đôi.

Phát triển dược liệu, bảo tồn tri thức truyền thống

Bên cạnh mở rộng dịch vụ y tế, chiến lược xác định công nghiệp dược liệu là ngành kinh tế chiến lược, gắn bảo tồn nguồn gene với phát triển vùng trồng, chế biến sâu, kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc.

Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu tự chủ tối thiểu 20% nhu cầu dược liệu sử dụng trong nước. Giá trị sản xuất công nghiệp dược liệu, thuốc cổ truyền và thuốc dược liệu tăng tối thiểu 10% mỗi năm; kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm này cũng tăng bình quân ít nhất 10% mỗi năm.

Việt Nam hướng tới xây dựng thương hiệu quốc gia cho 30 sản phẩm từ dược liệu, thuốc cổ truyền và thuốc dược liệu; đồng thời xây dựng đề án thành lập sáu trung tâm bảo tàng, bảo tồn, kế thừa và phát huy tri thức y học cổ truyền tại các địa phương.

Việt Nam hướng tới xây dựng thương hiệu quốc gia cho 30 sản phẩm từ dược liệu, thuốc cổ truyền và thuốc dược liệu; đồng thời xây dựng đề án thành lập sáu trung tâm bảo tàng, bảo tồn, kế thừa và phát huy tri thức y học cổ truyền tại các địa phương.

Về thể chế, chiến lược đặt nhiệm vụ rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, nghiên cứu xây dựng Luật Y học cổ truyền, phấn đấu trình Quốc hội vào cuối năm 2028.

Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam hướng tới nền y học cổ truyền phát triển toàn diện, hiện đại, hội nhập quốc tế; chuyển từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dược liệu trên thị trường quốc tế.

Cần hệ sinh thái để biến tiềm năng thành giá trị

TTND.PGS.TS Đậu Xuân Cảnh, Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam, nguyên Giám đốc Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam cho rằng, Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển y học cổ truyền, từ nguồn tài nguyên dược liệu phong phú với hơn 5.000 loài cây thuốc đến kho tàng tri thức được tích lũy qua hàng nghìn năm lịch sử.

Những danh y như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông cùng hệ thống y học cung đình qua các thời kỳ đã góp phần tạo nên nền tảng tri thức đặc sắc. Bên cạnh đó, mạng lưới thực hành y học cổ truyền trải rộng từ bệnh viện chuyên khoa đến đội ngũ lương y, ông lang, bà mế ở vùng sâu, vùng xa cũng là nguồn lực quan trọng.

“Đó là một nguồn lực rất lớn, tạo nên bản sắc riêng của Việt Nam. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa khai thác hiệu quả để biến những giá trị ấy trở thành tiềm năng phát triển”, ông Cảnh nhận định.

Theo chuyên gia, một trong những vấn đề cần quan tâm là bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với các bài thuốc gia truyền, tri thức bản địa và kinh nghiệm chữa bệnh dân gian. Nhiều giá trị hiện chưa được đăng ký bảo hộ đầy đủ, trong khi việc bảo tồn cần đi đôi với nghiên cứu, ứng dụng và phát huy giá trị thực tiễn.

“Nếu chỉ gìn giữ mà không khai thác, ứng dụng và lan tỏa hiệu quả thì chính những giá trị ấy sẽ bị mai một theo thời gian”, ông nói.

Ông Cảnh cũng cho rằng việc thương mại hóa có kiểm soát và xây dựng hệ sinh thái phát triển cho y học cổ truyền còn chậm. Sự kết nối giữa ngành y tế với khoa học công nghệ, nông nghiệp, du lịch và cộng đồng doanh nghiệp chưa thực sự chặt chẽ, khiến nhiều tiềm năng chưa được chuyển hóa thành giá trị kinh tế và xã hội.

“Đây là một trong những điểm nghẽn lớn của y học cổ truyền hiện nay. Chúng ta cần phát triển một hệ sinh thái đồng bộ, huy động sự tham gia của nhiều chủ thể để y học cổ truyền có thể lan tỏa mạnh mẽ hơn”, ông nhấn mạnh.

Theo ông Cảnh, việc nhìn nhận y học cổ truyền như một nguồn lực phát triển quốc gia mở ra cơ hội để lĩnh vực này vượt ra ngoài phạm vi khám, chữa bệnh, gắn với kinh tế xanh, du lịch sức khỏe, bảo tồn văn hóa và xây dựng thương hiệu quốc gia.

Thực tế, một số địa phương đã hình thành cộng đồng hành nghề Đông y gắn với sinh kế và hoạt động trải nghiệm văn hóa bản địa. Tại Ba Vì (Hà Nội) và một số địa phương khác, nhiều lương y duy trì nghề, đồng thời kết nối hoạt động khám, chữa bệnh với du lịch.

Thực tế, một số địa phương đã hình thành cộng đồng hành nghề Đông y gắn với sinh kế và hoạt động trải nghiệm văn hóa bản địa. Tại Ba Vì (Hà Nội) và một số địa phương khác, nhiều lương y duy trì nghề, đồng thời kết nối hoạt động khám, chữa bệnh với du lịch.

Tuy nhiên, để những mô hình này phát triển bền vững, theo ông Cảnh, cần cơ chế thúc đẩy liên kết giữa các ngành, hỗ trợ nghiên cứu, chuẩn hóa sản phẩm và bảo vệ tri thức truyền thống, đồng thời bảo đảm chất lượng, an toàn trong quá trình ứng dụng và thương mại hóa.

Ông cho rằng Việt Nam cần một chương trình quốc gia đủ mạnh để tập hợp nguồn lực, tháo gỡ những điểm nghẽn và tạo động lực phát triển y học cổ truyền trong giai đoạn mới.

Văn Hiền

Nguồn Công Luận: https://congluan.vn/y-hoc-co-truyen-sap-phu-kin-tram-y-te-tang-gap-doi-chi-tra-bao-hiem-post363863.html