Việc sử dụng hình tượng chim Lạc trong MV 'Come my way' của Sơn Tùng M-TP đã gây tranh cãi gay gắt trong dư luận với những ý kiến trái chiều, cả trong giới chuyên môn và công chúng. Trong bài viết này, chúng ta hãy cùng tìm hiểu kỹ hơn về hình tượng chim Lạc qua khảo cứu của TS Nguyễn Việt.
Cuộc sống hiện đại đã nhanh chóng làm mất đi những kỹ năng bản địa, ngay cả với những người trẻ tuổi trong cộng đồng các dân tộc ở vùng cao nước ta. Việc duy trì các cuộc thi bắn nỏ mỗi dịp lễ tết ở miền núi đã góp phần gìn giữ truyền thống và kỹ năng độc đáo của họ.
Buổi 'Rì rầm' hôm nay, tôi sẽ nói về hai mũi giáo đại diện cho vũ khí khối Âu và khối Lạc của cộng đồng Đông Sơn, để tạm kết thúc chuyên mục nói về giáo Đông Sơn trong loạt bài về vũ khí đâm chém thuộc chuyên mục Chiến tranh và Hòa bình thời Đông Sơn. Từ tuần sau, chúng ta sẽ bước vào một thế giới vũ khí có khả năng sát thương từ xa - cung, nỏ, mũi tên - dựa trên những chứng tích khảo cổ thời Đông Sơn.
Tôi thường nghĩ đến sự may mắn của nhà khảo cổ khi chúng tôi bắt gặp ngôi mộ một thợ cả ngành 'quân khí' thời Đông Sơn trong đợt khai quật giải phóng mặt bằng Làng Cả (Việt Trì, Phú Thọ) năm 1977.
Trong Hội nghị 'Hùng Vương dựng nước' lần thứ 3, năm 1971, giáo sư Đặng Nghiêm Vạn đã khiến cả hội nghị sửng sốt trước thông tin về hiện tượng uống bằng mũi của người Mảng, gắn với ghi chép về tục 'tị ẩm' trong truyền thuyết thời Hùng Vương. Bài viết có sử dụng tư liệu và hình ảnh của các đồng nghiệp như Nguyễn Duy Thiệu và sưu tập CQK.
Giáo là loại vũ khí chuyên biệt. Chúng khác với rìu - loại vũ khí đa chức năng, có thể dùng chặt chém trong chiến đấu, cũng có thể chặt chém trong gia dụng hằng ngày. Giáo lao thì không như vậy, tính chuyên hóa của chúng rõ ràng chỉ để đâm xuyên sát thương hoặc giết chết đối tượng (thú vật hay người), rất hiếm hình dung việc sử dụng chúng trong gia dụng như rìu.
Bước vào thời đại kim khí, sự sắc nhọn của dụng cụ, vũ khí chế bằng kim loại có thể dễ dàng gây thương tích cho người sử dụng, đặt ra nhu cầu tự nhiên của những thiết bị bao, che đầu nhọn, lưỡi sắc.
Trong phần đầu nói về dao găm Đông Sơn, tôi đã chia chúng làm hai phổ chính: Tây Âu và Lạc Việt.
Trong bài tuần trước, tôi nói nhiều về đỉnh cao của phổ dao găm Đông Sơn Lạc Việt, đó là dao găm cán là tượng người/thú. Ngoài chức năng tự vệ, cắt gọt, cán và bao dao găm loại này còn là những tác phẩm mỹ thuật Đông Sơn độc đáo. Tiếp theo dòng chủ đề về dao găm Đông Sơn, thể theo nguyện vọng một số bạn đọc, tôi dành vài minh họa nhỏ để giới thiệu các loại hình phụ, đơn giản của phổ dao găm Đông Sơn Lạc Việt: Loại đốc hình chữ 'T' ngược và loại đốc hình củ hành.
Năm 2004, tôi dẫn đoàn chuyên gia khảo cổ Đại học Quốc gia Úc đang cùng tôi khai quật hai khu mộ táng Đông Sơn ở Động Xá (Hưng Yên) và Yên Bắc (Hà Nam, nay là Ninh Bình) về Thanh Hóa tham dự Hội nghị kỷ niệm 80 năm phát hiện và nghiên cứu Văn hóa Đông Sơn (1924 - 2004). Tôi có nhã ý mời các bạn ăn cơm tối ở nhà hàng Bảo tàng Rừng Trong Phố để tiện thể giới thiệu sưu tập đồ Đông Sơn của chủ nhân…
Như buổi 'rì rầm' tuần trước đã đề cập, qua là một loại vũ khí bổ cán ngắn khá phổ biến trên thế giới và cũng thường thấy trong văn hóa Đông Sơn, được sản xuất ra là một vũ khí chuyên dùng trong chiến đấu. Qua Đông Sơn được chia làm 3 loại hình chính là dạng lưỡi thẳng với đốc, lưỡi gấp khúc với đốc và lưỡi vát chéo. Hôm nay tôi sẽ đi sâu vào loại hình qua lưỡi vát, một dạng 'rìu - qua' rất đặc trưng của chiến binh Đông Sơn.
Qua là một loại vũ khí bổ cán ngắn khá phổ biến trên thế giới và cũng thường thấy trong văn hóa Đông Sơn, đặc biệt xuất hiện nhiều trong khối Đông Sơn Tây Âu (hay Tây Vu).
Qua là một loại vũ khí bổ cán ngắn, khá phổ biến trên thế giới và cũng thường thấy trong văn hóa Đông Sơn, đặc biệt xuất hiện nhiều trong khối Đông Sơn Tây Âu (hay Tây Vu).
Thống kê từ khối tư liệu rìu chiến Đông Sơn có thể nhận ra 10% loại hình rìu chiến có lưỡi xòe cân. Đây sẽ là chủ đề được tập trung trong buổi 'rì rầm từ tiếng đất' kỳ này, sau chuỗi 3 bài nói về các loại rìu chiến lưỡi lệch.
Tiếp tục dõi theo những lưỡi rìu chiến Đông Sơn, buổi 'Rì rầm' hôm nay sẽ mời các bạn chiêm ngưỡng bộ rìu chiến rất độc đáo được phát hiện chủ yếu ở vùng miền núi Thanh Nghệ, nơi được nhiều nhà nghiên cứu gọi tên bằng thuật ngữ phân vùng văn hóa địa phương Đông Sơn: loại hình Đông Sơn Làng Vạc.
Hãy cùng nhắc lại một câu chuyện theo trí tưởng tượng từ số trước. Trước mắt tôi là đội quân hơn 300 chiến binh Đông Sơn - những người được nhận diện qua các di tích mộ táng và qua hình khắc, tượng nặn của các nghệ nhân chế tác đồ đồng Đông Sơn. Họ xuất hiện khi thì trên thuyền, khi thì hành quân bộ, thi thoảng cưỡi voi trận hoặc sánh bước bên những chiến mã.
Trong một số cuộc khai quật đầu tiên của nền khảo cổ học Việt Nam trên vùng đất Thanh Hóa vào đầu những năm 1960, các chuyên gia đã bắt gặp một số đồ đựng bằng đồng như thạp, trống đồng Đông Sơn… mà bên trong còn nguyên hay từng mảng hộp sọ người.
Chúng ta đã trải qua 6 tuần 'rì rầm' về chân dung và biểu tượng của các vị thần hộ mệnh trong xã hội Đông Sơn, được các thợ cả đúc đồng Đông Sơn thể hiện trên các tấm giáp đồng, trên các vũ khí như giáo, dao găm, qua đồng. Đặc trưng chung là các vị thần đó dù là nam hay nữ đều có một cặp sừng cong trên đầu.
Tiếp theo phần mô tả chân dung thần hộ mệnh trên các phiến giáp đồng và một số loại vũ khí Đông Sơn, tôi muốn dành buổi 'Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất' tuần này giới thiệu và phân tích những biểu tượng thần chiến tranh trên chuôi một loại qua đồng - vũ khí phổ biến và đặc trưng của chiến binh Đông Sơn thuộc nhóm Tây Âu (hay Tây Vu).
Trước khi tạm khép lại loạt bài 'Người lạ trong văn hóa Đông Sơn' chuyển sang series mới 'Chiến tranh và hòa bình trong Văn hóa Đông Sơn', tôi muốn dành buổi 'rì rầm' hôm nay để nói thêm về những người lạ trên đất Đông Sơn đến từ phía tây bắc.
Trong các lễ hội chính thời Đông Sơn thì bộ gõ với trống, chiêng/thanh la, chũm chẹ, phách, chuông và nhạc chuông tạo giai điệu nền chủ đạo. Những nhạc cụ khác mà bài này nhắc đến hôm nay chỉ đóng vai trò phụ và đặc biệt trở nên quan trọng trong các 'tiểu lễ'. Tôi sẽ đi sâu vào những nhạc cụ thuộc bộ hơi đóng vai trò chính trong các 'tiểu lễ' của lễ hội hoặc cả ngoài lễ hội. Đó là sự hiện diện của bộ ba khèn, sáo và tiêu.
Cách đây đã trên 30 năm, các nhà khảo cổ học thuộc tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc) đã phát hiện một ngôi mộ quý tộc thời Chiến Quốc, thế kỷ 4 - 5 trước Công nguyên và rất sửng sốt với một hiện vật lạ chưa từng thấy trước đó trong khảo cổ học nước này. Đó là một chiếc trống đồng nhỏ rộng khoảng 12cm, cao chừng 7cm - 8 cm, trên mặt trống, chính giữa mặt trời nhiều cánh, có một quai treo.
Trong ngôn ngữ Việt thì 'trống chiêng' là một liên từ ám chỉ sự rộn ràng của âm vang lễ hội, cũng như sau này gắn với cặp từ 'kèn trống'. Kỳ này, tôi xin kể thêm về trống Đông Sơn và tiếp nối đến 'chiêng' Đông Sơn. Đây là sự tiếp nối rất tự nhiên và logic mà cư dân Đông Sơn đang nắm giữ những bằng chứng sinh động nhất của cuộc tiếp nối này.
Gần như tuyệt đại bộ phận các lồng đốt trầm Đông Sơn đều tạo làn khói thơm bện vờn quanh một tượng chim công trên đỉnh chóp của lồng ấp. Dường như mùi thơm trang nghiêm, thanh lịch của trầm luôn gắn bó với vẻ đẹp thanh cao của chim công....
Tôi muốn dành buổi 'rì rầm' hôm nay để vừa từng bước đặc tả một loại hiện vật Đông Sơn độc đáo, vừa làm rõ điểm khác biệt rất đáng chú ý của quý tộc Đông Sơn thời Giao Chỉ.
Tiếp sau 8 buổi 'rì rầm' về 'Tạo sáng Đông Sơn', tôi muốn cùng các độc giả báo Thể thao và Văn hóa (TTXVN) thưởng thức những hương vị Đông Sơn thông qua các dẫn liệu khảo cổ học, từ những hạt quả chứa hương thơm đến các đồ dùng để tạo hương.
Bảo tàng Lịch sử quốc gia hiện đang trưng bày một cây đèn Đông Sơn mà chân đèn là một tượng voi rỗng với thần thế rất 'Đông Sơn', gồm cả quản tượng và người ôm cột chân đèn ngồi phía sau…
Tuần trước, chúng ta đã trải nghiệm hiện tượng thần đèn ngồi trên mặt đất, tỏa sáng bằng cách thoát ra từ đầu của mình ba con rồng bay lên rồi kết tinh lại thành một con vươn lên đỡ một đĩa đèn - biểu tượng ánh sáng linh thiêng. Hôm nay tôi muốn cùng các bạn quan sát một hiện tượng ngược lại: Những con rồng nâng bổng thần đèn, biến chính thần đèn thành người nâng đỡ đĩa đèn với ánh sáng linh thiêng đó. Sự thay đổi đó có ý nghĩa gì chăng hay chỉ là cảm hứng tùy tiện của người thợ đúc đồng?
Đèn đồng Đông Sơn thuộc vào loại hình hiện vật đa dạng và được đầu tư nghệ thuật vào loại nhất trong bảng hiện vật Đông Sơn. Điều đó phản ánh giá trị quan trọng của hiện vật tạo sáng trong đời sống xã hội Đông Sơn và hé mở bức tranh tư duy khá phức tạp trong cư dân Đông Sơn. Bức tranh đó cho ta thấy tính đa tộc, đa tầng và đa văn hóa đương thời.
Trước khi loài người có thể tạo ra và duy trì lửa, ánh sáng ban ngày chỉ đến từ Mặt trời và đêm tối nhờ ánh trăng biến động trong chu kỳ 'lưỡi liềm' đến tròn rằm hàng tháng. Nếu Mặt trời là hiện tượng như đương nhiên, bất diệt với con người thì Mặt trăng mang nhiều yếu tố sống động, gần gụi hơn.
Như đã hứa hẹn từ tuần trước, từ tuần này tôi sẽ 'rì rầm' cùng các bạn xoay quanh chủ đề về 'tạo sáng' (lighting) thời Đông Sơn.
Có lẽ đây là một nội dung sinh hoạt có vị trí đặc biệt và trung tâm trong đời sống sinh hoạt hàng năm cũng như đời sống tâm linh thường ngày của cư dân Đông Sơn. Nhận xét này dựa trên thống kê cách mà xã hội Đông Sơn đã đầu tư cho nghệ thuật được miêu tả bằng tạo hình trên những vật phẩm kim loại cao cấp và giá trị nhất đương thời.
Ngoài những bữa ăn bình thường thì trong đời sống cư dân Đông Sơn nổi lên hai loại 'cơm' quan trọng, đó là cơm cúng và cơm khách.
Tiếp theo các buổi rì rầm những tuần trước, chúng ta đang quan tâm đến ứng xử của người Đông Sơn với lúa gạo. Hôm nay, hãy tập trung vào một loại hình 'cơm' đặc biệt của Đông Sơn, đó là rượu!
Đa số dân Đông Sơn ăn lúa gạo hàng ngày là điều không thể chối cãi. Nhưng trong số 'cốc vật' (getreide, grain) làm lương thực lúc đó đã không phải chỉ là 'độc cốc' - lúa (rice). Sau này ta thường nghe thấy một từ quen tai: ngũ cốc (năm loài hạt - thử, tắc, kê, đạo, truật…) là ám chỉ sự đa dạng trong lương thực chính của cư dân trên trái đất này, trong đó mỗi vùng địa nhân văn tương ứng với sự lan tỏa và sử dụng một loại hình lương thực chính.
Kết quả nghiên cứu từ các hạt gạo, thóc khảo cổ học do chúng tôi gom được từ các di tích, di vật Đông Sơn đã đưa ra một nhận định rất thú vị: Hầu như toàn bộ thóc lúa từ 4.000 năm đến khoảng 2.000 năm trước trong các địa điểm khảo cổ học Việt Nam đều có dạng hạt bầu (large type).
Tổ tiên người Đông Sơn đã trồng và ăn cơm lúa gạo từ hàng trăm thế hệ trước đó. Với người Đông Sơn thì câu chuyện lúa gạo đã đạt đến đỉnh cao rồi.
Tên 'Hộ tâm phiến' Đông Sơn xuất hiện phổ biến từ những năm 1960 - 1970 nhằm chỉ những phiến đồng mỏng hình vuông hay chữ nhật thường thấy trong các mộ táng Đông Sơn. Đây là một từ mượn chữ Hán ám chỉ vật tròn đeo trước ngực các bộ giáp phục. Sau này bỏ Hán ngữ dùng từ thuần Việt là 'tấm che ngực', được nhiều nhà nghiên cứu xếp vào mục binh khí với tư cách là một hiện vật dùng để che đỡ một phần thân thể trong giáp chiến.
Có hai loại vật dụng Đông Sơn hay được thợ cả Đông Sơn hay tạo hình tượng thú gắn vào. Đó là ốp thắt lưng và vòng đeo tay quý tộc. Tôi cũng đã đề cập đến chủ đề này trước khi mở đầu chuỗi bài nói về tượng người trên cán dao găm trong các số trước.
Để tiếp mạch câu chuyện về nghệ thuật tạo tượng tập thể trên cán dao găm, tuần này tôi muốn dành cho độc giả một bất ngờ lớn khi hé lộ về một số khối tượng tập thể tiêu biểu mà tôi đã có điều kiện nghiên cứu.
Đời sống xã hội cổ truyền Đông Sơn khá phong phú và đa dạng nên luôn đặt ra những đòi hỏi mới với tay nghề và cách xử lý của các thợ đúc đồng xưa. Hôm nay, tôi sẽ nói về những xử lý đối với tượng đông người trên cán dao găm Đông Sơn.
Tôi nghĩ rằng, đây là một nội dung rất hứng thú với mọi bạn đọc quan tâm đến nghệ thuật đúc đồng Đông Sơn. Bởi, trong chủ đề Người Đông Sơn vẽ, nặn về người Đông Sơn, những bài trước dành cho các kỹ năng thể hiện của thợ đúc đồng Đông Sơn trên các mặt phẳng bên trong của khuôn đúc....
Xu hướng phụ hệ và nam quyền trở lên thống trị xã hội ở các vùng đồng bằng miền Bắc Việt Nam diễn ra sớm hơn theo chiều từ Bắc xuống Nam. Chiều hướng này có vẻ liên quan đến các làn sóng nam tiến từ các cộng đồng xã hội trống lúa vùng sông Dương Tử (sông Trường Giang - Trung Quốc) xuống từ khoảng đầu thiên niên kỷ 2 trước Công nguyên.
Tôi sẽ tạm dừng chuỗi bài nói về linh thú Đông Sơn để chuyển sang chủ đề Đông Sơn khác bằng câu chuyện về hình tượng voi và trâu bò được nghệ nhân và thầy cúng Đông Sơn thể hiện như thế nào.
Như đã hẹn từ thứ Năm tuần trước, tuần này tôi sẽ kể về chim và rùa trong thế giới tâm linh Đông Sơn.
Năm 2010, tôi nhận được lời mời tham dự Đại hội Khảo cổ học Thế giới lần thứ 7, trong tiểu ban Không gian huyền thoại và Những linh thú liên quan. Tôi đã chọn chủ đề 'Núi Tản Viên và hươu', dựa trên việc sử chép đời Lý bắt được hươu trắng trên núi Tản - thực tế là đưa quan hệ núi thiêng và thú thiêng xa hơn nữa về tận thời văn hóa Đông Sơn, thời Văn Lang, Âu Lạc.
Tôi vẫn thường nghĩ và gom các bằng chứng về tính đa tộc trong văn hóa Đông Sơn. Truyền thuyết về 15 bộ thời Hùng Vương ít nhiều báo hiệu tính đa tộc là hiện thực trong thời Đông Sơn với đỉnh cao rơi vào thời Âu Lạc….
Cho đến ngày hôm nay, ở bất kể đâu trên thế giới còn thực hành nghi lễ Shaman (tín ngưỡng cầu cúng tổ tiên và thế giới tâm linh nguyên thủy) thì nhạc điệu từ các loại bộ gõ vẫn tạo ra âm thanh chủ đạo, tạo nhịp cho các nghi lễ đó. Kỳ này, tôi tập trung nói về vai trò chủ đạo của trống đồng như đỉnh cao của nhạc cụ thuộc bộ gõ trong nghi lễ shaman Đông Sơn.
Thoạt đầu, một số nhà khảo cổ cho là đai thắt lưng. Năm 2001, sau khi khảo sát ba cặp đai đầu trong sưu tập Đặng Tiến Sơn (Hà Nội), thấy chỉ khớp với độ cong và chỉ số vòng đầu, tôi đã chính thức thông báo về những 'vương miện' Đông Sơn này, gắn chúng với hình ảnh những đai đầu trên các tượng người ở cán dao găm Đông Sơn.