Báo cáo chiến lược nửa cuối năm 2026 của Dragon Capital ghi nhận khả năng thích ứng tốt của nền kinh tế Việt Nam trước các áp lực tài chính toàn cầu. Tổ chức này dự báo thị trường cổ phiếu sẽ được dẫn dắt bởi lực đẩy từ các dự án hạ tầng, sự kiện nâng hạng lên Thị trường Mới nổi Thứ cấp của FTSE Russell và mặt bằng định giá hấp dẫn.
Sau nhiều tháng tăng liên tiếp, mặt bằng lãi suất huy động được dự báo sẽ tiếp tục neo ở mức cao trong những tháng cuối năm.
Sau nhiều tháng tăng liên tiếp, mặt bằng lãi suất huy động được dự báo sẽ tiếp tục neo ở mức cao trong những tháng cuối năm.
Dù lãi suất huy động liên tục được điều chỉnh tăng, áp lực cân đối nguồn vốn của hệ thống ngân hàng vẫn đang ở mức báo động khi tốc độ tăng trưởng tín dụng bỏ xa tốc độ huy động tiền gửi.
Theo Dragon Capital, triển vọng nâng hạng thị trường cùng các thương vụ IPO quy mô khoảng 35.000 - 40.000 tỷ đồng được kỳ vọng sẽ tạo thêm động lực cho thị trường chứng khoán trong nửa cuối năm.
Sáng ngày 9/7, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đã tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề 'Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026: Thách thức, động lực và triển vọng phát triển'. Hội thảo tập trung mổ xẻ bức tranh kinh tế vĩ mô, nhận diện những rủi ro tiềm ẩn, từ đó tìm kiếm các giải pháp phát triển cho nửa cuối năm.
Bơm thêm 1,44 triệu tỷ đồng vào nền kinh tế chỉ sau 6 tháng, Ngân hàng Nhà nước đang nỗ lực đưa tín dụng thành động lực chính cho mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số.
Trước áp lực cân đối nguồn vốn do tín dụng tăng nhanh hơn huy động, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã kịp thời đưa ra các giải pháp hỗ trợ thanh khoản, cải thiện các chỉ số an toàn hệ thống.
Cuộc đua huy động vốn giữa các ngân hàng đang bước sang giai đoạn mới khi không chỉ lãi suất tiết kiệm vượt mốc 9%/năm và phát hành chứng chỉ tiền gửi lãi cao cũng được tung ra. Đằng sau là áp lực thiếu hụt nguồn vốn khi tín dụng tiếp tục tăng nhanh hơn huy động, buộc các ngân hàng phải tìm mọi cách hút dòng tiền trở lại hệ thống.
Lãi suất hiện vẫn trở thành gánh nặng cho doanh nghiệp, đặc biệt khi sức cầu phục hồi chậm và chi phí đầu vào ngày càng gia tăng.
Chứng khoán BIDV (BSC) cho rằng, bài toán huy động vốn trở nên cấp thiết hơn mục tiêu tăng trưởng tín dụng, khi tỷ lệ LDR của hệ thống duy trì trên 110%. Mức tăng của lãi suất huy động có thể chậm lại 6 tháng cuối năm, thanh khoản dần cải thiện, giúp NIM có thể tăng nhẹ ở một nhóm ngân hàng tư nhân và quốc doanh.
Theo đánh giá của Maybank, mặt bằng lãi suất trên thị trường Việt Nam có thể tiếp tục hạ nhiệt trong nửa cuối năm 2026. Qua đó tạo điều kiện cho các ngân hàng mở rộng tín dụng, giảm chi phí vốn và cải thiện hiệu quả kinh doanh của nhiều nhóm doanh nghiệp.
Thời kỳ tăng trưởng nóng của ngành ngân hàng được dự báo sẽ dần khép lại, nhường chỗ cho giai đoạn tăng trưởng chậm hơn dưới sức ép từ tín dụng, lãi suất và biên lợi nhuận…
Theo TPS, mặt bằng lãi suất vẫn chưa cho thấy tín hiệu nới lỏng rõ rệt khi áp lực thanh khoản ngắn hạn của hệ thống ngân hàng còn hiện hữu. Tuy nhiên, diễn biến hạ nhiệt tại một số kỳ hạn huy động cho thấy áp lực tăng lãi suất đã phần nào giảm bớt.
ACBS dự báo tín dụng năm 2026 giảm về mức 15%, trong khi NIM tiếp tục co hẹp, thanh khoản hệ thống còn nhiều sức ép và lợi nhuận ngành ngân hàng tăng chậm lại.
Mục tiêu tăng trưởng GDP 11,9% trong 6 tháng cuối năm đang trở thành tâm điểm của các cuộc thảo luận kinh tế. Đây không chỉ là con số đầy tham vọng, mà còn là phép thử đối với hiệu quả điều hành của hàng loạt chính sách về tiền tệ, tín dụng và đầu tư công. Điều thị trường quan tâm lúc này là dòng tiền có được khơi thông đúng địa chỉ để tạo ra tăng trưởng thực chất hay không.
Mặc dù cuộc đua tăng lãi suất huy động đã chậm lại trong tháng 6, mặt bằng lãi suất vẫn duy trì ở mức cao, với mức cao nhất lên tới 9%/năm. Điều này giúp người gửi tiền có thêm lợi ích, nhưng đồng thời khiến nhiều hộ gia đình, phụ nữ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ tiếp tục đối mặt với áp lực chi phí vốn.
Mặt bằng lãi suất huy động đang có xu hướng tăng nhẹ với mức cao nhất chạm ngưỡng 9,3%/năm trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng vượt xa tốc độ huy động vốn.
Tiền gửi Kho bạc Nhà nước đạt 626,7 nghìn tỷ đồng tại các tổ chức tín dụng cuối tháng 3/2026, trở thành 'điểm tựa' thanh khoản hệ thống. Tuy nhiên, các chuyên gia của VDSC cho rằng, việc nới tỷ lệ LDR, tính thêm 20% tiền gửi Kho bạc và nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn vẫn chưa đủ để hạ nhiệt lãi suất, cần thêm giải pháp hỗ trợ thanh khoản.
Việc huy động vốn của nhiều ngân hàng đang gặp khó khăn vì lượng tiền gửi của người dân giảm.
Lãnh đạo Vụ Chính sách tiền tệ cho biết việc NHNN triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ tín dụng thời gian qua nhằm đảm bảo dòng vốn được lưu thông, nhưng vẫn đặt yêu cầu kiểm soát an toàn hệ thống lên hàng đầu.
Theo đại diện Ngân hàng Nhà nước, việc không tính dư nợ vào room tín dụng đối với 18 dự án lớn của 3 doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện cho dòng vốn ngân hàng chảy mạnh hơn vào các lĩnh vực có tác động lan tỏa đến tăng trưởng GDP.
Ngân hàng Nhà nước cho biết, tín dụng là 'mạch máu' của nền kinh tế, song không đồng nghĩa với việc tăng trưởng bằng mọi giá.
Ngân hàng Nhà nước đang nghiên cứu điều chỉnh tăng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, cơ quan quản lý nhấn mạnh đây là giải pháp kỹ thuật nhằm mở rộng dư địa cấp tín dụng cho nền kinh tế, không phải là công cụ trực tiếp bơm thêm thanh khoản vào hệ thống.
Việc miễn room tín dụng đối với một số dự án quy mô lớn và các khoản vay dành cho nhà ở xã hội, khu công nghiệp, khu chế xuất được Ngân hàng Nhà nước xác định là giải pháp nhằm tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng, song không đồng nghĩa với việc nới lỏng các tiêu chuẩn an toàn trong hoạt động cấp tín dụng.
Đại diện Ngân hàng Nhà nước khẳng định thanh khoản hệ thống vẫn dồi dào dù tăng trưởng tín dụng cao hơn huy động vốn 3,8% suốt 5 năm, đẩy tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) lên 112 - 114%. Khi cần thiết, Ngân hàng Nhà nước có thể tiếp tục nới các công cụ hỗ trợ thanh khoản.
Mặc dù nới lỏng room tín dụng với một số lĩnh vực, dự án ưu tiên song điều này không đồng nghĩa nới lỏng chất lượng tín dụng, không đánh đổi rủi ro lấy tăng trưởng.
Ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước), khẳng định thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn được bảo đảm ổn định. Các tổ chức tín dụng đều đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ chi trả tiền gửi, tiền lãi cũng như nhu cầu rút tiền của khách hàng. Tuy nhiên, do tăng trưởng tín dụng liên tục vượt tăng trưởng huy động vốn kể từ năm 2021 nên áp lực cân đối nguồn vốn của các tổ chức tín dụng ngày càng gia tăng…
VNBA dự báo lợi nhuận sau thuế của 27 ngân hàng niêm yết tăng khoảng 15% trong quý II/2026 và tăng 16% trong 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ…
Câu chuyện tín dụng năm 2026 không chỉ nằm ở vấn đề 'room' mà ở cách dòng vốn được phân bổ ưu tiên hiệu quả và tạo giá trị dài hạn cho nền kinh tế.
Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) vừa công bố báo cáo cập nhật triển vọng đối với 3 ngân hàng quốc doanh gồm Vietcombank (VCB), VietinBank (CTG) và BIDV (BID). Dù đều được dự báo duy trì tăng trưởng lợi nhuận trong năm 2026, mức độ tăng trưởng và quan điểm đầu tư của VDSC có sự khác biệt giữa từng ngân hàng.
Thông tư số 25/2026/TT-NHNN chính thức có hiệu lực từ hôm nay (1/7) với những thay đổi lớn quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay ngân hàng.
Đề xuất thay thế tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) bằng dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) và áp trần 85% đang nhận nhiều góp ý, do hầu hết ngân hàng vượt ngưỡng này và có thể buộc hệ thống đua lãi suất để huy động thêm 2,6 triệu tỷ đồng.
Trước nhu cầu vốn ngày càng lớn của nền kinh tế, Chính phủ giao Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào nguồn vốn huy động. Chính sách mới có thể tạo thêm dư địa cho vay, đặc biệt với nhóm ngân hàng quốc doanh.
Chính phủ vừa yêu cầu NHNN nghiên cứu nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại được tính vào nguồn vốn huy động của các ngân hàng.
Phân tích tỷ lệ an toàn ngân hàng qua ba trụ cột CAR, nợ xấu - bao phủ nợ xấu và LDR cốt lõi, cho thấy sự phân hóa rõ nét giữa 27 ngân hàng thương mại.