Thời kỳ tăng trưởng nóng của ngành ngân hàng được dự báo sẽ dần khép lại, nhường chỗ cho giai đoạn tăng trưởng chậm hơn dưới sức ép từ tín dụng, lãi suất và biên lợi nhuận…
Theo TPS, mặt bằng lãi suất vẫn chưa cho thấy tín hiệu nới lỏng rõ rệt khi áp lực thanh khoản ngắn hạn của hệ thống ngân hàng còn hiện hữu. Tuy nhiên, diễn biến hạ nhiệt tại một số kỳ hạn huy động cho thấy áp lực tăng lãi suất đã phần nào giảm bớt.
ACBS dự báo tín dụng năm 2026 giảm về mức 15%, trong khi NIM tiếp tục co hẹp, thanh khoản hệ thống còn nhiều sức ép và lợi nhuận ngành ngân hàng tăng chậm lại.
Mục tiêu tăng trưởng GDP 11,9% trong 6 tháng cuối năm đang trở thành tâm điểm của các cuộc thảo luận kinh tế. Đây không chỉ là con số đầy tham vọng, mà còn là phép thử đối với hiệu quả điều hành của hàng loạt chính sách về tiền tệ, tín dụng và đầu tư công. Điều thị trường quan tâm lúc này là dòng tiền có được khơi thông đúng địa chỉ để tạo ra tăng trưởng thực chất hay không.
Mặc dù cuộc đua tăng lãi suất huy động đã chậm lại trong tháng 6, mặt bằng lãi suất vẫn duy trì ở mức cao, với mức cao nhất lên tới 9%/năm. Điều này giúp người gửi tiền có thêm lợi ích, nhưng đồng thời khiến nhiều hộ gia đình, phụ nữ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ tiếp tục đối mặt với áp lực chi phí vốn.
Mặt bằng lãi suất huy động đang có xu hướng tăng nhẹ với mức cao nhất chạm ngưỡng 9,3%/năm trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng vượt xa tốc độ huy động vốn.
Tiền gửi Kho bạc Nhà nước đạt 626,7 nghìn tỷ đồng tại các tổ chức tín dụng cuối tháng 3/2026, trở thành 'điểm tựa' thanh khoản hệ thống. Tuy nhiên, các chuyên gia của VDSC cho rằng, việc nới tỷ lệ LDR, tính thêm 20% tiền gửi Kho bạc và nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn vẫn chưa đủ để hạ nhiệt lãi suất, cần thêm giải pháp hỗ trợ thanh khoản.
Việc huy động vốn của nhiều ngân hàng đang gặp khó khăn vì lượng tiền gửi của người dân giảm.
Lãnh đạo Vụ Chính sách tiền tệ cho biết việc NHNN triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ tín dụng thời gian qua nhằm đảm bảo dòng vốn được lưu thông, nhưng vẫn đặt yêu cầu kiểm soát an toàn hệ thống lên hàng đầu.
Theo đại diện Ngân hàng Nhà nước, việc không tính dư nợ vào room tín dụng đối với 18 dự án lớn của 3 doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện cho dòng vốn ngân hàng chảy mạnh hơn vào các lĩnh vực có tác động lan tỏa đến tăng trưởng GDP.
Ngân hàng Nhà nước cho biết, tín dụng là 'mạch máu' của nền kinh tế, song không đồng nghĩa với việc tăng trưởng bằng mọi giá.
Ngân hàng Nhà nước đang nghiên cứu điều chỉnh tăng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, cơ quan quản lý nhấn mạnh đây là giải pháp kỹ thuật nhằm mở rộng dư địa cấp tín dụng cho nền kinh tế, không phải là công cụ trực tiếp bơm thêm thanh khoản vào hệ thống.
Việc miễn room tín dụng đối với một số dự án quy mô lớn và các khoản vay dành cho nhà ở xã hội, khu công nghiệp, khu chế xuất được Ngân hàng Nhà nước xác định là giải pháp nhằm tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng, song không đồng nghĩa với việc nới lỏng các tiêu chuẩn an toàn trong hoạt động cấp tín dụng.
Đại diện Ngân hàng Nhà nước khẳng định thanh khoản hệ thống vẫn dồi dào dù tăng trưởng tín dụng cao hơn huy động vốn 3,8% suốt 5 năm, đẩy tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) lên 112 - 114%. Khi cần thiết, Ngân hàng Nhà nước có thể tiếp tục nới các công cụ hỗ trợ thanh khoản.
Mặc dù nới lỏng room tín dụng với một số lĩnh vực, dự án ưu tiên song điều này không đồng nghĩa nới lỏng chất lượng tín dụng, không đánh đổi rủi ro lấy tăng trưởng.
Ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước), khẳng định thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn được bảo đảm ổn định. Các tổ chức tín dụng đều đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ chi trả tiền gửi, tiền lãi cũng như nhu cầu rút tiền của khách hàng. Tuy nhiên, do tăng trưởng tín dụng liên tục vượt tăng trưởng huy động vốn kể từ năm 2021 nên áp lực cân đối nguồn vốn của các tổ chức tín dụng ngày càng gia tăng…
VNBA dự báo lợi nhuận sau thuế của 27 ngân hàng niêm yết tăng khoảng 15% trong quý II/2026 và tăng 16% trong 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ…
Câu chuyện tín dụng năm 2026 không chỉ nằm ở vấn đề 'room' mà ở cách dòng vốn được phân bổ ưu tiên hiệu quả và tạo giá trị dài hạn cho nền kinh tế.
Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) vừa công bố báo cáo cập nhật triển vọng đối với 3 ngân hàng quốc doanh gồm Vietcombank (VCB), VietinBank (CTG) và BIDV (BID). Dù đều được dự báo duy trì tăng trưởng lợi nhuận trong năm 2026, mức độ tăng trưởng và quan điểm đầu tư của VDSC có sự khác biệt giữa từng ngân hàng.
Thông tư số 25/2026/TT-NHNN chính thức có hiệu lực từ hôm nay (1/7) với những thay đổi lớn quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay ngân hàng.
Đề xuất thay thế tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) bằng dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) và áp trần 85% đang nhận nhiều góp ý, do hầu hết ngân hàng vượt ngưỡng này và có thể buộc hệ thống đua lãi suất để huy động thêm 2,6 triệu tỷ đồng.
Trước nhu cầu vốn ngày càng lớn của nền kinh tế, Chính phủ giao Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào nguồn vốn huy động. Chính sách mới có thể tạo thêm dư địa cho vay, đặc biệt với nhóm ngân hàng quốc doanh.
Chính phủ vừa yêu cầu NHNN nghiên cứu nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại được tính vào nguồn vốn huy động của các ngân hàng.
Phân tích tỷ lệ an toàn ngân hàng qua ba trụ cột CAR, nợ xấu - bao phủ nợ xấu và LDR cốt lõi, cho thấy sự phân hóa rõ nét giữa 27 ngân hàng thương mại.
Lợi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm tăng lên khoảng 4,52%, cao nhất trong ba năm, phản ánh áp lực thanh khoản và quá trình tái định giá chi phí vốn.
Hàng loạt điều chỉnh chính sách của Ngân hàng Nhà nước từ đầu năm đến nay như nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn, điều chỉnh cách tính room tín dụng hay loại trừ dư nợ của 18 dự án lớn khỏi hạn mức tăng trưởng tín dụng đang phát đi thông điệp điều hành rõ ràng: Hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng không đánh đổi sự ổn định của hệ thống tài chính.
ABBank sẽ phát hành gần 209,6 triệu cổ phiếu để trả cổ tức với tỷ lệ 15%, mở đầu kế hoạch tăng vốn điều lệ thêm hơn 6.000 tỷ đồng và hướng tới chuyển niêm yết sang HoSE.
Theo VDSC việc nới trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% chủ yếu tháo gỡ ràng buộc về cơ cấu kỳ hạn nguồn vốn, trong khi 'điểm nghẽn' lớn nhất của hệ thống ngân hàng hiện nay vẫn là thanh khoản và tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi (LDR).
ABBank dự kiến chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 15% trong nửa đầu tháng 7/2026, mở đầu kế hoạch tăng vốn năm nay, đưa vốn lên trên 20.000 tỷ đồng. Động thái diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay ngân hàng tiến sát 120 nghìn tỷ đồng và chất lượng tài sản cải thiện rõ nét.
Mirea Asset đánh giá TPBank duy trì triển vọng tích cực với mục tiêu lợi nhuận hơn 10.000 tỷ đồng năm 2026, song chất lượng tài sản và áp lực huy động vốn là những rủi ro cần chú ý.
Theo VDSC, nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn chỉ mở thêm dư địa về kỳ hạn nguồn vốn, chứ không trực tiếp tạo ra nguồn vốn huy động mới. Do đó, tác động của chính sách phụ thuộc lớn vào khả năng cải thiện huy động trong nền kinh tế, trạng thái LDR của từng ngân hàng và mức độ ổn định của thanh khoản hệ thống
Dự báo sẽ có khoảng 1 triệu tỷ đồng nguồn vốn mới được giải phóng, trực tiếp đổ vào các dự án hạ tầng, năng lượng và sản xuất, tạo động lực tăng trưởng bứt phá cho những tháng cuối năm.
Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa chính thức nâng trần tỉ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% - đảo chiều hoàn toàn lộ trình siết chặt kéo dài suốt giai đoạn 2019 - 2023. Động thái được ban hành trong bối cảnh tín dụng tăng gần gấp đôi huy động vốn, LDR (tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi) toàn hệ thống chạm mức kỷ lục 115%, nhằm giải phóng dư địa cho hàng triệu tỷ đồng vốn trung, dài hạn vào nền kinh tế.
Việc Ngân hàng Nhà nước nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn và điều chỉnh cách tính LDR sẽ mở rộng dư địa tín dụng cho ngân hàng, đồng thời hỗ trợ ngành bất động sản, hạ tầng và vật liệu xây dựng.
Từ việc loại trừ dư nợ của 18 dự án trọng điểm trị giá khoảng 752.000 tỷ đồng khỏi hạn mức tăng trưởng tín dụng đến điều chỉnh các chỉ tiêu quản trị thanh khoản của hệ thống ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước đang phát đi tín hiệu rõ ràng về việc mở rộng không gian cho dòng vốn.