Sự tương tác giữa truyền thống và hiện đại, giữa đời sống tâm linh và trách nhiệm xã hội, đã tạo nên một trong những đặc trưng nổi bật của Phật giáo Đông Á trong tiến trình phát triển của thế giới ngày nay.
Người đời và các tôn giáo đều có cái thấy phân hai, thế gian là vô thường còn bên kia, cái siêu việt, cái toàn thể vô biên thì thường. Tục đế hay thế đế là vô thường, chân đế thì thường.
Sinh tử là thấy những chuyển động, do đó có thời gian. Thấy gió động hay phướng động đều là cái thấy của sinh tử thấy có ra sinh tử. Còn cái thấy được thực tại thì: 'Nào ngờ thực tại (tự tính) vốn chẳng sinh diệt; nào ngờ thực tại vốn không động lay'
Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng (677-744), tục họ Đỗ, người An Khang Kim Châu (nay thành phố An Khang, tỉnh Thiểm Tây), ra đời vào năm thứ hai niên hiệu Nghi Phụng đời nhà Đường (năm 677 Công nguyên), những ghi chép này là dựa vào Tống cao tăng truyện.
Do giáo phái của Huệ Năng không lập văn tự, kiến tính tức ngộ tức thân thành Phật, cho nên được giới sĩ phu, văn nhân hoan nghênh, lại thêm đệ tử của ngài hết sức đề cao, khiến Nam tông Thiền mà Huệ Năng làm đại biểu trở thành chính thống của Thiền tông Trung Hoa
Phật giáo chia cái thấy con người ra thành năm loại. Đó là cái thấy bằng Nhục nhãn, cái thấy bằng Thiên nhãn, cái thấy bằng Tuệ nhãn, cái thấy bằng Pháp nhãn, và cái thấy bằng Phật nhãn. Trước tiên cần phải nói rằng, cái thấy của con người bằng Nhục nhãn là một cái thấy giới hạn.