Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường TP HCM, 3 lô đất tại Thủ Thiêm, gồm lô 1-2, 1-3 và 3-5 sẽ được đấu giá vào tháng 12/2025, với tổng giá trị khởi điểm cho cả 3 lô là 5.705 tỷ đồng.
'Ngã tư quốc tế' là chỉ dẫn nơi gặp nhau của bốn phương trời. Rộng ra hơn, nghĩa của cụm từ có thể nói về sự hội tụ và hội nhập trong quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa, mà Đà Nẵng đã, đang và sẽ là một nơi như thế.
Mặc dù cấp huyện sắp sửa kết thúc hoạt động, nhưng với tôi, mấy chục năm gắn bó với nghề phóng viên 'cấp huyện' rong ruổi tác nghiệp khắp các làng quê, góc phố huyện... sẽ mãi là ký ức không thể nào quên...
Bởi cái 'dùng dằng' không muốn chảy nên con nước Trường Giang chẳng có mỡ màu phù sa, chỉ cô đọng lại những tầng vỉa văn hóa - lịch sử rất chi là… Quảng Nam.
Khu vực Thủ Thiêm (TP.HCM) đang là 'thỏi nam châm' thu hút các thương hiệu F&B. Trong đó, nhộn nhịp nhất phải kể đến Khu đô thị Sala và dự án chung cư cao cấp The Metropole.
Dùng dằng chi rứa (NXB Đà Nẵng, 2021) là tập thơ thứ hai và cũng là tập lục bát thứ hai của Huỳnh Trương Phát sau Hạt phong trần (2012). Ưu nhược cốt tử của thể thơ truyền thống này đã được nhiều người bàn đến: Hễ kể thì dễ hóa văn vần, hễ bay bổng thì vần gieo dễ lạc. Tôi thấy lục bát Huỳnh Trương Phát đã hóa giải được một cách hài hòa để tránh hai nhược điểm này. Điều đặc biệt hơn là ở chỗ, 93 bài lục bát này hầu hết thuộc loại 'thơ có cớ' (có địa điểm, sự việc ngoại cảnh tác động), rất ít bài 'thơ vô cớ' (xuất từ rung cảm nội tâm) với sự xuất hiện của rất nhiều tên địa danh (thống kê toàn tập, kể cả ghi chú nơi sáng tác, thấy có đến 179 tên, trong khi tập thơ đầu, dù nhiều, cũng chỉ mới có 54 địa danh). Nghĩa là, Huỳnh Trương Phát tự đặt mình vào thế khó của thể thơ này. 'Thơ có cớ' với nhiều tên địa danh thì thường là kể, mà hễ kể thì rơi đúng cái nhược điểm cốt tử của lục bát. Biết làm răng chừ? May quá! Tên tập thơ là Dùng dằng chi rứa nhưng những cặp lục bát trong tập thơ này thì lại cứ 'dung dăng' tự nhiên như trẻ thơ chơi trò 'dung dăng dung dẻ'. Và chính cái bổn tính tự nhiên ấy đã giúp Huỳnh Trương Phát dung dăng dắt những câu thơ đi theo nhịp 6/8 vượt qua hết địa danh này đến địa danh khác dù dốc đèo miền núi hay bằng phẳng đồng bằng, dù chập chùng biển sóng hay cả nơi rộn ràng phố chật người đông…
Dường như đất Núi Thành - huyện cực nam tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng xưa - có tiếng gọi của muôn ngàn hương sắc. Tiếng gọi thầm lặng mà rõ ràng. Vô hình mà gần gũi. Tiếng gọi sâu lắng và đằm thắm.
Nói lái (có nơi còn gọi là nói trại) là một cách 'chơi chữ' bằng lời nói của người Việt. Mỗi vùng miền, do cách phát âm giọng nói của địa phương khác nhau, nên nói lái cũng có những thay đổi nhất định. Với giọng Quảng Nam, tuy phát âm không chuẩn nhưng chính đặc điểm này lại là miếng đất màu mỡ để phát triển nói lái kiểu... Quảng.Cách chơi chữ, nói lái đã được hai nhà ngôn ngữ Lê Trung Hoa và Hồ Lê bàn trong cuốn Thú chơi chữ (NXB Trẻ, 1990): 'Tiếng Việt có hai điều kiện rất thuận lợi cho việc nói lái. Một là ranh giới giữa các âm tiết (hay tiếng) rất rõ ràng. Hai là hầu hết các phụ âm đều có thể kết hợp với bất kỳ vần nào có mang thanh điệu (còn gọi là thanh), và trong đa số trường hợp đã tạo nên những tiếng có nghĩa. Nhiều ngôn ngữ khác không có đủ hai điều kiện này nên không thể hoặc khó có thể có hiện tượng nói lái'.
Người Việt vốn khôi hài. Thích cười. Ai ai cũng khoái được há miệng ra cười. Có phải do dân đen đã gánh quá nhiều nhọc nhằn, vì thế, họ cần cười như một cách xả hơi, xí xóa chuyện xúi quẩy đen đủi, xui xẻo, xóa ván này ta chơi ván khác, chẳng gì phải bi quan, rị mọ thở ngắn than dài?
Tiếng Việt ngày càng méo mó chăng? Nghĩ thế, bèn đọc thông báo này, đại khái: 'Thông tin dự án đã bị lọt lộ; nhiều đoạn đường bị sạt sụt; giao lộ X đang bị ùn ứ; nguyên nhân cháy do điện bị chạm chập; hàng rong phải kiên quyết bị đẩy đuổi; nhiều công việc cùng thời điểm cần được phối kết và lồng lắp' v.v…