Chiều nhẹ. Nắng mỏng như tờ giấy. Sóng ập òa bình yên. Bọn trẻ rộn rã nói cười. Tất cả im lặng khi anh dõng dạc hướng dẫn bài vẽ sóng. Anh bảo bọn trẻ tả sóng, nhưng phải theo cách nghĩ của mình. Thương im lặng.
Đọc thơ Vương Cường, người đọc như thấy ông đang đi trên cánh đồng có cả máu xương và cỏ xanh, hoa trái; có hoàng hôn và nắng mới. Ông đi giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Bàn tay ông chìa ra về phía con người trong mộng du, trao cho họ những bài thơ thân phận.
Ra Tết, tiết trời vẫn còn đương lạnh. Cái lạnh Giêng Hai ở quê cũng dữ dằn chẳng thua kém mùa đông là bao. Thêm những đợt mưa phùn nên cảm giác lúc nào cũng buôn buốt chân tay. Đều đặn, khoảng hai giờ sáng mẹ đã thức dậy đồ xôi gấc để bán. Những chõ xôi gấc đỏ au, thơm bùi mùi nếp quyện mùi gấc cứ thế lan tỏa khắp cả gian bếp nhỏ. Tôi luôn nhớ về những buổi sáng nấu xôi gấc của mẹ bằng những hình ảnh đượm màu kí ức như vậy.
Tết của tôi không bắt đầu từ tháng Chạp. Với người nghèo, Tết đến sớm hơn trong những bộn bề lo toan, tính toán. Từ tháng Năm trong làn mưa gió ẩm ương của Tây Nguyên, ba tôi nhắc mạ đi vùi mấy bụi gừng để kịp tháng Chạp đào làm mứt. Hồi bé, tôi ghét cay ghét đắng và hờn trách người nào tạo ra món mứt cay xé lưỡi đứa con nít. Nhưng tôi thích cảm giác cùng mạ đi tìm mấy bao xi măng cắt làm đôi từng đám bụi còn sót lại nhiều lúc khiến tôi ho sặc sụa nhưng cảm giác mình đang cùng mẹ gieo trồng một mùa Tết để gặt hái chiếc váy xúng xính với bao lì xì khiến tôi vui, quên hết mệt mỏi.
Xứ Huế lắm nắng nhiều mưa và mùa mưa Huế thường kéo dài đến gần nửa năm, chưa kể dăm ba ngày mưa cắc cớ chen vào những tháng nắng. Mà cứ mưa xuống là lạnh. Cái lạnh kèm độ ẩm khá cao rất đặc trưng của Huế cứ buôn buốt từ chân tóc vào đến ruột gan, không chỉ với những người phải dãi dầu mưu sinh mà còn với bất cứ ai đã từng ở, từng sống và gắn bó với mảnh đất hiền hòa này từ bao đời đã thiệt thòi cam chịu những khắc nghiệt của thời tiết.
Ngày Đông lan man nhớ về ngọn khói rút ruột từ rơm rạ mà nồng nàn, mà ấm nóng, mà chan chứa bao nỗi niềm. Tôi rất thích hình ảnh ngọn khói, chứ làn khói thì quá mỏng mà màn khói lại quá dày. Ngọn khói như chồi của ngọn cây của sự sống. Khói ngút lên từ rơm rạ đồng quê, rơm rạ đã khô, đã héo, đã chết, nhưng ngọn khói thì lại sống, mang lại sự hồi sinh từ cái chết.
Đất trời sắp bước vào những ngày thu cuối, nắng vàng vọt và yếu ớt, những cây bàng, hàng xoan xác xơ, tiều tụy sau mùa lá rụng, với ta chẳng một chút ngỡ ngàng. Bởi ta đã có thừa những gì được biết về sự cô đơn, buôn buốt cuối mùa như vậy.
Chiều Văn Miếu Trấn Biên
Những ngày cuối năm, mưa tạnh dần nhưng cái rét vẫn còn buôn buốt. Từng chùm nụ mai đã e ấp cánh vàng. Cỏ cây nơi nơi giăng giăng lộc biếc. Đám rêu bên góc sân âm thầm vươn lên những nụ tim tím li ti. Mỗi ngày trôi qua thật nhanh trong nồng nàn hương vị tết. Hít thật sâu, thở thật nhẹ, mỗi người sẽ nghe mùi của tết ùa về trong hơi thở mùa xuân.
Những câu chuyện trong tập truyện văn học Tước gấm giấu đay (Linh Lan Books và NXB Phụ nữ Việt Nam) đưa người đọc vào một hành trình đầy sắc thái, kết hợp giữa dã sử và văn học về những người phụ nữ nổi tiếng trong hoàng cung Việt Nam.
Bài thơ 'Xa quê nghe tiếng đàn bầu' của tác giả Đức Hậu.
Một buổi tối đầu tháng 11, trời lất phất mưa bay, gió bấc len lỏi qua từng mái nhà; con ngõ, mùi ngô, khoai nướng trên vỉa hè thơm lừng một góc phố… Thế là đông sang.
Thanh xuân mà mẹ, chừng nào chân chưa mỏi, chừng đó con còn đi. Con đã ích kỷ quá nhiều lần rồi, mẹ ạ...
Diêu muốn lấy mình? Đến cả trong giấc mơ, Tươi cũng chẳng dám tơ tưởng. Ánh mắt sâu. Giọng nói ấm. Những mùa hoa lục bình lẳng lặng trôi đi, Tươi vẫn không tài nào quên nổi. Tươi từng nghĩ, chỉ cần người đàn ông ấy ngỏ lời, Tươi sẵn sàng hiến dâng không mảy may hối tiếc. Khổ nỗi Tươi không đẹp, hai gò má lại cao nên hồi ấy chỉ biết đứng từ xa nhìn những cô gái vây quanh Diêu trong niềm ao ước...
Khái niệm 'nhà văn trẻ' là không hoàn toàn chặt chẽ khi đặt vào câu chuyện sáng tạo nghệ thuật nói chung và sáng tác văn học về đề tài lịch sử nói riêng. Sự bình đẳng trước đề tài lịch sử liên quan tới cách nhìn nhận vấn đề. Thứ nhất: Thế nào là bình đẳng? Thứ hai: Lịch sử nào? Trả lời những câu hỏi đó phần nào đưa chúng ta đến gần hơn với thực tại viết về đề tài lịch sử của các nhà văn trẻ.
Người bạn đồng nghiệp từ miền đất ấy, một nhà văn là cô giáo, nói điều gì về quê hương mình, tự dưng làm tôi nghĩ lại những đợt gió chuyển mùa.
Chúng tôi ngồi khít khao vào nhau hơn. Khít đến nỗi tôi thấy mình như đang đắm chìm trong vị biển mặn chát. Nghe thấy rõ tiếng đập thình thịch, thình thịch của trái tim khỏe mạnh đang nóng giẫy lên trong vòm ngực rộng của anh. Khít đến nỗi tôi hít được mùi đàn ông nồng lên trên thịt da và tóc anh như lửa cháy.
Anh đưa cô gói mì tôm đẫm nước, rồi đi. Cơn đói bỗng từ đâu nhào tới khiến cô có cảm giác như dưới đáy dạ dày đang có cả đống sỏi xóc qua xóc lại, vừa lùng bùng, lạo xạo, lợn cợn lại vừa buôn buốt, xon xót. Mà đây là cơn mơ gì? Sao cứ mông lung, chập chờn, chẳng đâu vào đâu thế này?
Một cách gần gũi, người ta gọi đó là Lầu Ông Tư, để chỉ ngôi nhà 3 tầng lầu kiến trúc hình hộp giản dị nằm cuối con đường biển, gần giáp với cửa sông, bốn mặt thông thoáng lộng gió. Bên kia sông là Xóm Cồn, nơi những ngư dân đầu tiên của vùng đất này ngụ cư bám biển sinh nhai....
Chiều nay gió mùa đông bắc tràn về. Cái giá lạnh của gió mùa lúc này không còn là chút se se mà nó đã thực sự mang đến cảm giác buôn buốt như kim châm của gió mùa giữa độ. Nó khác với gió lạnh đầu mùa, chỉ xóa đi cái oi nồng của hạ còn sót lại gửi qua thu.
Buổi trưa hè nắng như đổ lửa, từng làn gió rát bỏng ùa vào nhà, mang theo cái nóng hừng hực bức bối. Mơ mỏi mệt thức dậy sau giấc ngủ trưa.