Về mục tiêu tăng trưởng 2 con số mà Kết luận 18 đề cập, các chuyên gia kinh tế cho rằng đây là một thách thức, tuy nhiên không phải là nằm ngoài tầm với. Để thành công, mục tiêu đã có, vấn đề là lộ trình và khả năng thực thi để biến thách thức thành cơ hội. Theo TS Cấn Văn Lực, tăng trưởng là một lộ trình dài hạn mà quan điểm nhất quán là không đánh đổi tính bền vững.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số trong giai đoạn tới, Việt Nam cần những cải cách đủ mạnh ở cấp độ vi mô nhằm khơi thông nguồn lực, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Những năm gần đây đã chứng minh một điều rõ ràng: Việt Nam có năng lực tạo dựng và duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ.
Muốn đạt được mục tiêu tăng trưởng 2 con số, nền kinh tế phải được xây dựng trên một nền tảng mới: Năng suất cao hơn, doanh nghiệp mạnh hơn, thị trường thông suốt hơn, công nghệ hiện đại hơn và bộ máy thực thi chất lượng, hiệu quả hơn.
Việt Nam đã chính thức vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao. Mục tiêu tiếp theo là xây dựng nền công nghiệp hiện đại, là quốc gia đang phát triển. Đây cũng là chủ đề Hội thảo do Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương phối hợp cùng Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA) và Viện Kinh tế và Dịch vụ Nhân sinh tổ chức sáng 15-7.
Theo TS Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, kinh tế Việt Nam muốn tăng trưởng cao phải dựa nhiều hơn vào năng suất và năng lực doanh nghiệp.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần một làn sóng cải cách chính sách ở cấp độ vi mô. Theo các chuyên gia, bên cạnh cải cách thể chế và tín dụng, chính sách thuế cần được thiết kế theo hướng hỗ trợ đúng đối tượng, tạo động lực cho đầu tư, đổi mới công nghệ và phát triển khu vực kinh tế tư nhân.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, việc chuyển trọng tâm sang cải cách vi mô được xem là 'chìa khóa' để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới.
Trong bối cảnh dư địa của các chính sách vĩ mô truyền thống đang dần thu hẹp, cải cách vi mô có tính đột phá được xem là 'chìa khóa' quyết định để thúc đẩy sức sản xuất của doanh nghiệp, kích thích sự phát triển của nền kinh tế, hướng đến mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Sáng 14.7, tại Hà Nội, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới đã phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức Diễn đàn 'Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vi mô đột phá và mục tiêu hai con số'.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng bình quân 10% trong giai đoạn 2026-2030, Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào mở rộng vốn đầu tư hay lao động giá rẻ mà phải tạo đột phá từ năng suất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Muốn đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần đồng bộ cải cách thể chế, phát triển thị trường vốn, bảo đảm an ninh năng lượng và nâng cao chất lượng nhân lực.
Các điểm nghẽn vi mô cản trở sự phát triển của doanh nghiệp, cũng như mục tiêu tăng trưởng cao là: thể chế (chi phí tuân thủ, tính ổn định, thực thi), nguồn lực (vốn, đất đai, nhân lực, công nghệ, dữ liệu), thị trường (đầu ra, tiêu chuẩn, liên kết chất lượng) và đổi mới (R&D, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh).
Muốn đạt tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần chuyển trọng tâm sang cải cách vi mô, tháo gỡ điểm nghẽn cho doanh nghiệp, khơi thông nguồn lực và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần đẩy mạnh cải cách vi mô đột phá, lấy doanh nghiệp làm trung tâm và khơi thông các động lực tăng trưởng mới.
Việt Nam đã chính thức vào nhóm các quốc gia thu nhập trung bình cao, song chúng ta cần nỗ lực hơn gấp bội để thoát 'bẫy thu nhập trung bình' nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược trở thành quốc gia thu nhập cao vào dịp kỷ niệm 100 năm thành lập nước năm 2045.
GDP 6 tháng đầu năm cao nhất trong 15 năm qua, tuy nhiên để đạt mục tiêu cả năm 2026 vẫn còn nhiều thách thức. Chuyên gia kinh tế cho rằng, việc phát huy hiệu quả đầu tư công, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, cải cách thể chế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và khơi thông sức mạnh của khu vực kinh tế tư nhân sẽ là những động lực then chốt để tạo bứt phá.
Để trở thành quốc gia phát triển, nền kinh tế không chỉ cần nhiều doanh nghiệp hơn mà cần những doanh nghiệp có quy mô lớn, có năng lực quản trị hiện đại, làm chủ công nghệ, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, đủ sức cạnh tranh với các tập đoàn đa quốc gia.
Mục tiêu đưa kinh tế Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số trong giai đoạn 2026-2030 đang được xác định là yêu cầu mang tính chiến lược nhằm tạo nền tảng cho đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.
Lợi thế lao động giá rẻ từng giúp Việt Nam thu hút đầu tư và duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Và khi mục tiêu tăng trưởng 2 con số được đặt ra, chất lượng nguồn nhân lực trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và sức bật của nền kinh tế trong dài hạn.
Việt Nam chính thức vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao. Đây là thành quả của gần 40 năm đổi mới, mở ra chặng đường mới hướng tới mục tiêu thu nhập cao vào năm 2045.
Mục tiêu tăng trưởng 2 con số không chỉ đặt ra yêu cầu về tốc độ, mà còn đòi hỏi Việt Nam phải thay đổi mô hình phát triển. Khi dư địa của các động lực truyền thống dần thu hẹp, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang được xác định là nền tảng để nâng cao năng suất, tạo năng lực cạnh tranh mới và mở ra không gian tăng trưởng bền vững.
Phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp nhỏ và vừa là chìa khóa giúp Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số và trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao.
Việt Nam đang bước vào một giai đoạn cải cách sâu rộng để hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
Từ nền tảng và sức chống chịu được củng cố qua nhiều biến động toàn cầu, TS. Lê Duy Bình - Giám đốc Economica Vietnam nhấn mạnh, Việt Nam đang đứng trước cơ hội bước vào một chu kỳ tăng trưởng mới nhờ những động lực mới. Việc triển khai hiệu quả các ưu tiên chiến lược sẽ tạo nền tảng để nền kinh tế bứt phá, hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển bền vững giai đoạn tới.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030 không chỉ là những con số trên bàn nghị sự, mà là mệnh lệnh hành động để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Nhưng để kiến tạo một chu kỳ bứt phá thần tốc, thì cần xây những nền tảng vững chắc.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số vừa đặt ra yêu cầu cao về điều hành, vừa đòi hỏi cách tiếp cận mới trong nhận diện và khai thác dư địa tăng trưởng. Vấn đề không chỉ là đặt mục tiêu cao hơn, mà là tìm đúng không gian, lĩnh vực và động lực có thể tạo tăng trưởng thực; từ đó tháo đúng điểm nghẽn, kích hoạt đúng nguồn lực và biến từng dư địa thành năng lực phát triển cụ thể.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số thể hiện khát vọng nâng tầm quy mô nền kinh tế, đồng thời là động lực thúc đẩy nâng cao chất lượng cạnh tranh và cải cách thực chất.
Trong bối cảnh thế giới đầy biến động, việc đổi mới mô hình tăng trưởng không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu cấp thiết để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng phát triển.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với những biến động khó lường, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải tìm kiếm những động lực tăng trưởng mới để hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045. Theo phân tích của TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia, dư địa từ các động lực truyền thống đang dần thu hẹp. Để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn, nền kinh tế cần một bước chuyển mang tính căn bản, trong đó cải cách thể chế và tái cấu trúc thị trường vốn được xem là hai trụ cột quan trọng nhất.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026–2030 đặt ra yêu cầu cấp bách phải thay đổi mô hình phát triển, tháo gỡ điểm nghẽn và kiến tạo động lực mới cho nền kinh tế.
Nâng cao năng suất lao động (NSLĐ) là động lực cốt lõi và trực tiếp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nguồn lực tái đầu tư và nâng cao sức cạnh tranh quốc gia. Đây là chìa khóa để đạt các mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững.
Tăng trưởng hai con số là con đường tất yếu để hoàn thành hai mục tiêu 100 năm của đất nước vào năm 2030 và 2045.
Trong nhiều năm, khi nói đến nguồn lực phát triển, chúng ta thường nghĩ ngay đến vốn, đất đai, tài nguyên, lao động hay công nghệ. Nhưng thực tế phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, những nền kinh tế bứt phá nhanh nhất thường không phải là những quốc gia giàu tài nguyên nhất, mà là những quốc gia biết giải phóng tốt nhất nguồn lực con người, sức sáng tạo và động lực của xã hội.
Theo TS. Nguyễn Sĩ Dũng, muốn tăng trưởng 2 con số, Việt Nam phải chuyển từ 'huy động' sang 'giải phóng nguồn lực, từ 'quản lý sự vận động' sang 'kiến tạo sự bứt phá'.
Việt Nam đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng GDP 10% cho năm 2026. Mục tiêu ấy sẽ khả thi nếu trong ngắn hạn, cả nước đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, khơi thông các dự án tư nhân trọng điểm, thúc đẩy xuất khẩu, củng cố niềm tin nhà đầu tư và tận dụng các cơ hội tăng năng suất ngắn hạn trong sản xuất, dịch vụ, logistics.
Giai đoạn 2026-2030 mang ý nghĩa bước ngoặt, đòi hỏi nền kinh tế Việt Nam phải có sự điều chỉnh toàn diện từ cách tiếp cận đến khâu thực thi để hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng hai con số, hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Đây là những chia sẻ của ông Nguyễn Quốc Anh, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế tài chính, Bộ Tài chính tại Tọa đàm 'Vai trò ngành Ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế' do Thời báo Ngân hàng tổ chức ngày 08/5/2026.
Cần xây dựng, phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp từ số lượng sang chất lượng; tập trung chính sách bảo đảm điều kiện để doanh nghiệp hoạt động ổn định; tái cơ cấu hệ thống doanh nghiệp; phát triển các doanh nghiệp 'đầu đàn' để dẫn dắt thị trường, kết nối chuỗi giá trị…
Trong tiến trình thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững, Đảng ta đã sớm xác định cải cách thể chế là khâu đột phá chiến lược.
Kinh tế Việt Nam được đánh giá là điểm sáng hiếm hoi trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và tăng trưởng toàn cầu chậm lại. Kinh tế Việt Nam sau hơn nửa thế kỷ đất nước thống nhất đã đạt những thành tựu vượt bậc, mang lại nhiều lợi ích cho người dân thụ hưởng, cũng như khẳng định vị thế, tầm vóc đất nước trên trường quốc tế.
Kinh tế số Việt Nam đang ghi nhận những bước tiến nhanh cả về quy mô lẫn tốc độ tăng trưởng, trở thành một trong những điểm sáng của khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, để thực sự trở thành động lực tăng trưởng bền vững, kinh tế số không chỉ cần mở rộng quy mô mà còn đòi hỏi sự chuyển dịch về cấu trúc, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực hấp thụ của toàn bộ nền kinh tế.
Ngày 30/4 không chỉ gợi nhắc về chiến thắng lịch sử, mà còn đặt ra yêu cầu tiếp nối tinh thần đó trong phát triển kinh tế hôm nay. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số, doanh nghiệp phải trở thành lực lượng đi đầu, chuyển đổi mạnh mẽ và nâng cao khả năng cạnh tranh bằng công nghệ, quản trị, bằng tiêu chuẩn bền vững.
Các cải cách kinh tế kể từ khi khởi xướng Đổi mới vào năm 1986, cùng với việc đón bắt trúng các xu hướng toàn cầu có lợi đã đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nàn, lạc hậu thành một trong những điểm sáng phát triển, tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, đời sống người dân không ngừng được cải thiện.
Trong bối cảnh Việt Nam kỷ niệm 51 năm thống nhất đất nước, câu chuyện hòa giải, phát triển và tầm nhìn quốc gia được đặt trong một không gian rộng hơn – nơi các quốc gia cùng đối diện với những chuyển động lớn của thời đại.
Áp lực chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu nội tại của nền kinh tế, buộc Việt Nam phải tăng tốc nếu muốn duy trì đà phát triển bền vững. Giai đoạn 2026 - 2035, bài toán không chỉ là định hướng, mà là khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực từ thể chế, tài chính đến công nghệ và năng lực thực thi.
Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số trong những năm tới như một lựa chọn phát triển: hoặc bứt lên để vượt qua bẫy thu nhập trung bình, hoặc tiếp tục bước đi trong một thế giới đang thay đổi rất nhanh.
Năm 2026 mở đầu chặng đường của Việt Nam trong hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, với kỳ vọng tạo nền tảng vững chắc cho khát vọng phát triển đất nước thịnh vượng với các dấu mốc 100 năm thành lập Đảng (năm 2030) và 100 năm thành lập nước (năm 2045). Đây không chỉ là phép thử về năng lực điều hành và sức chống chịu của nền kinh tế mà còn là bước chuyển về chất trong mô hình tăng trưởng. Thành công chỉ đến khi tăng trưởng cao đi đôi với đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất và cải cách thể chế một cách thực chất, tạo đà cho phát triển nhanh nhưng bền vững trong dài hạn.
Kinh tế số được kỳ vọng trở thành 'đầu tàu' tăng trưởng, mở ra không gian phát triển mới cho Việt Nam, nhưng để biến tiềm năng thành hiện thực, vẫn cần những thay đổi mạnh mẽ từ chính sách đến thực thi.
Ấn phẩm Đánh giá kinh tế Việt Nam thường niên năm 2025 của Đại học Kinh tế Quốc dân chỉ ra rằng tỷ trọng đầu tư của khu vực tư nhân trong nước đang có xu hướng suy giảm trong khi đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đã chuyển sang mức âm... Điều này cho thấy các giải pháp tăng trưởng cho năm 2026 cần tập trung vào cải cách thể chế và kinh tế số
Các chuyên gia cho rằng, để kinh tế số đạt mục tiêu khoảng 30% GDP vào năm 2030, Việt Nam cần tháo gỡ các rào cản về thể chế, đầu tư và chất lượng phát triển.
Nghị quyết của Quốc hội đặt mục tiêu GDP tăng bình quân từ 10%/năm, đưa Việt Nam vào nhóm 30 nền kinh tế có quy mô lớn nhất thế giới vào 2030.
Tăng trưởng xanh đang trở thành động lực phát triển mới, nhưng để hiện thực hóa cần vượt qua các 'điểm nghẽn' về vốn, công nghệ và tổ chức thực thi.
Trong bối cảnh kinh tế số tăng nhanh, nhưng đang có sự suy giảm của các yếu tố chiều sâu như công nghệ, quản trị và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Câu hỏi đặt ra là Việt Nam đang tạo ra giá trị hay chỉ dừng ở 'gia công số'?
Kinh tế thế giới ngày càng bất định và tình hình chiến sự Trung Đông căng thẳng, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên, phản ánh quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong việc tạo đà tăng tốc ngay từ đầu chu kỳ phát triển mới.
Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng chỉ ra một trong 3 trụ cột để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, bền vững trong năm nay là phát huy vai trò của các thành phần kinh tế, gồm: kinh tế Nhà nước, tư nhân và FDI.
Phó Thủ tướng nhấn mạnh, lấy khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực tăng trưởng chính; phát triển các động lực tăng trưởng mới, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Thống kê sơ bộ, giai đoạn phát triển mới cần khoảng 38 triệu tỷ đồng, vốn Nhà nước dự kiến đáp ứng 8,5 triệu tỷ, gần 30 triệu tỷ còn lại sẽ được huy động từ đâu?
Nhấn mạnh tăng trưởng hai con số phải đến từ thực chất, các ĐBQH đề nghị, cần tiếp tục có đột phá về thể chế mạnh hơn nữa, đặc biệt là phân cấp, phân quyền thực chất hơn cho địa phương; giải phóng mạnh mẽ các nguồn lực, nhất là đất đai và đầu tư tư nhân; tái cấu trúc cơ chế dẫn vốn của nền kinh tế để dòng vốn đi đúng địa chỉ, đúng nhu cầu và phục vụ trực tiếp các động lực tăng trưởng.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số đặt nền công nghiệp Việt Nam vào một phép thử lớn về năng lực nội sinh, từ thể chế, công nghệ đến vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.