Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần đẩy mạnh cải cách vi mô đột phá, lấy doanh nghiệp làm trung tâm và khơi thông các động lực tăng trưởng mới.
Việt Nam đã chính thức vào nhóm các quốc gia thu nhập trung bình cao, song chúng ta cần nỗ lực hơn gấp bội để thoát 'bẫy thu nhập trung bình' nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược trở thành quốc gia thu nhập cao vào dịp kỷ niệm 100 năm thành lập nước năm 2045.
GDP 6 tháng đầu năm cao nhất trong 15 năm qua, tuy nhiên để đạt mục tiêu cả năm 2026 vẫn còn nhiều thách thức. Chuyên gia kinh tế cho rằng, việc phát huy hiệu quả đầu tư công, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, cải cách thể chế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và khơi thông sức mạnh của khu vực kinh tế tư nhân sẽ là những động lực then chốt để tạo bứt phá.
Để trở thành quốc gia phát triển, nền kinh tế không chỉ cần nhiều doanh nghiệp hơn mà cần những doanh nghiệp có quy mô lớn, có năng lực quản trị hiện đại, làm chủ công nghệ, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, đủ sức cạnh tranh với các tập đoàn đa quốc gia.
Mục tiêu đưa kinh tế Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số trong giai đoạn 2026-2030 đang được xác định là yêu cầu mang tính chiến lược nhằm tạo nền tảng cho đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.
Lợi thế lao động giá rẻ từng giúp Việt Nam thu hút đầu tư và duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Và khi mục tiêu tăng trưởng 2 con số được đặt ra, chất lượng nguồn nhân lực trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và sức bật của nền kinh tế trong dài hạn.
Việt Nam chính thức vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao. Đây là thành quả của gần 40 năm đổi mới, mở ra chặng đường mới hướng tới mục tiêu thu nhập cao vào năm 2045.
Mục tiêu tăng trưởng 2 con số không chỉ đặt ra yêu cầu về tốc độ, mà còn đòi hỏi Việt Nam phải thay đổi mô hình phát triển. Khi dư địa của các động lực truyền thống dần thu hẹp, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang được xác định là nền tảng để nâng cao năng suất, tạo năng lực cạnh tranh mới và mở ra không gian tăng trưởng bền vững.
Phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp nhỏ và vừa là chìa khóa giúp Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số và trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao.
Việt Nam đang bước vào một giai đoạn cải cách sâu rộng để hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
Từ nền tảng và sức chống chịu được củng cố qua nhiều biến động toàn cầu, TS. Lê Duy Bình - Giám đốc Economica Vietnam nhấn mạnh, Việt Nam đang đứng trước cơ hội bước vào một chu kỳ tăng trưởng mới nhờ những động lực mới. Việc triển khai hiệu quả các ưu tiên chiến lược sẽ tạo nền tảng để nền kinh tế bứt phá, hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển bền vững giai đoạn tới.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030 không chỉ là những con số trên bàn nghị sự, mà là mệnh lệnh hành động để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Nhưng để kiến tạo một chu kỳ bứt phá thần tốc, thì cần xây những nền tảng vững chắc.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số vừa đặt ra yêu cầu cao về điều hành, vừa đòi hỏi cách tiếp cận mới trong nhận diện và khai thác dư địa tăng trưởng. Vấn đề không chỉ là đặt mục tiêu cao hơn, mà là tìm đúng không gian, lĩnh vực và động lực có thể tạo tăng trưởng thực; từ đó tháo đúng điểm nghẽn, kích hoạt đúng nguồn lực và biến từng dư địa thành năng lực phát triển cụ thể.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số thể hiện khát vọng nâng tầm quy mô nền kinh tế, đồng thời là động lực thúc đẩy nâng cao chất lượng cạnh tranh và cải cách thực chất.
Trong bối cảnh thế giới đầy biến động, việc đổi mới mô hình tăng trưởng không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu cấp thiết để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng phát triển.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với những biến động khó lường, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải tìm kiếm những động lực tăng trưởng mới để hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045. Theo phân tích của TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia, dư địa từ các động lực truyền thống đang dần thu hẹp. Để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn, nền kinh tế cần một bước chuyển mang tính căn bản, trong đó cải cách thể chế và tái cấu trúc thị trường vốn được xem là hai trụ cột quan trọng nhất.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026–2030 đặt ra yêu cầu cấp bách phải thay đổi mô hình phát triển, tháo gỡ điểm nghẽn và kiến tạo động lực mới cho nền kinh tế.
Nâng cao năng suất lao động (NSLĐ) là động lực cốt lõi và trực tiếp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nguồn lực tái đầu tư và nâng cao sức cạnh tranh quốc gia. Đây là chìa khóa để đạt các mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững.
Tăng trưởng hai con số là con đường tất yếu để hoàn thành hai mục tiêu 100 năm của đất nước vào năm 2030 và 2045.
Trong nhiều năm, khi nói đến nguồn lực phát triển, chúng ta thường nghĩ ngay đến vốn, đất đai, tài nguyên, lao động hay công nghệ. Nhưng thực tế phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, những nền kinh tế bứt phá nhanh nhất thường không phải là những quốc gia giàu tài nguyên nhất, mà là những quốc gia biết giải phóng tốt nhất nguồn lực con người, sức sáng tạo và động lực của xã hội.
Theo TS. Nguyễn Sĩ Dũng, muốn tăng trưởng 2 con số, Việt Nam phải chuyển từ 'huy động' sang 'giải phóng nguồn lực, từ 'quản lý sự vận động' sang 'kiến tạo sự bứt phá'.
Việt Nam đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng GDP 10% cho năm 2026. Mục tiêu ấy sẽ khả thi nếu trong ngắn hạn, cả nước đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, khơi thông các dự án tư nhân trọng điểm, thúc đẩy xuất khẩu, củng cố niềm tin nhà đầu tư và tận dụng các cơ hội tăng năng suất ngắn hạn trong sản xuất, dịch vụ, logistics.
Giai đoạn 2026-2030 mang ý nghĩa bước ngoặt, đòi hỏi nền kinh tế Việt Nam phải có sự điều chỉnh toàn diện từ cách tiếp cận đến khâu thực thi để hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng hai con số, hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Đây là những chia sẻ của ông Nguyễn Quốc Anh, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế tài chính, Bộ Tài chính tại Tọa đàm 'Vai trò ngành Ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế' do Thời báo Ngân hàng tổ chức ngày 08/5/2026.
Cần xây dựng, phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp từ số lượng sang chất lượng; tập trung chính sách bảo đảm điều kiện để doanh nghiệp hoạt động ổn định; tái cơ cấu hệ thống doanh nghiệp; phát triển các doanh nghiệp 'đầu đàn' để dẫn dắt thị trường, kết nối chuỗi giá trị…
Trong tiến trình thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững, Đảng ta đã sớm xác định cải cách thể chế là khâu đột phá chiến lược.
Kinh tế Việt Nam được đánh giá là điểm sáng hiếm hoi trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và tăng trưởng toàn cầu chậm lại. Kinh tế Việt Nam sau hơn nửa thế kỷ đất nước thống nhất đã đạt những thành tựu vượt bậc, mang lại nhiều lợi ích cho người dân thụ hưởng, cũng như khẳng định vị thế, tầm vóc đất nước trên trường quốc tế.
Kinh tế số Việt Nam đang ghi nhận những bước tiến nhanh cả về quy mô lẫn tốc độ tăng trưởng, trở thành một trong những điểm sáng của khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, để thực sự trở thành động lực tăng trưởng bền vững, kinh tế số không chỉ cần mở rộng quy mô mà còn đòi hỏi sự chuyển dịch về cấu trúc, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực hấp thụ của toàn bộ nền kinh tế.
Ngày 30/4 không chỉ gợi nhắc về chiến thắng lịch sử, mà còn đặt ra yêu cầu tiếp nối tinh thần đó trong phát triển kinh tế hôm nay. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số, doanh nghiệp phải trở thành lực lượng đi đầu, chuyển đổi mạnh mẽ và nâng cao khả năng cạnh tranh bằng công nghệ, quản trị, bằng tiêu chuẩn bền vững.
Các cải cách kinh tế kể từ khi khởi xướng Đổi mới vào năm 1986, cùng với việc đón bắt trúng các xu hướng toàn cầu có lợi đã đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nàn, lạc hậu thành một trong những điểm sáng phát triển, tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, đời sống người dân không ngừng được cải thiện.
Trong bối cảnh Việt Nam kỷ niệm 51 năm thống nhất đất nước, câu chuyện hòa giải, phát triển và tầm nhìn quốc gia được đặt trong một không gian rộng hơn – nơi các quốc gia cùng đối diện với những chuyển động lớn của thời đại.
Áp lực chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu nội tại của nền kinh tế, buộc Việt Nam phải tăng tốc nếu muốn duy trì đà phát triển bền vững. Giai đoạn 2026 - 2035, bài toán không chỉ là định hướng, mà là khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực từ thể chế, tài chính đến công nghệ và năng lực thực thi.
Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số trong những năm tới như một lựa chọn phát triển: hoặc bứt lên để vượt qua bẫy thu nhập trung bình, hoặc tiếp tục bước đi trong một thế giới đang thay đổi rất nhanh.
Năm 2026 mở đầu chặng đường của Việt Nam trong hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, với kỳ vọng tạo nền tảng vững chắc cho khát vọng phát triển đất nước thịnh vượng với các dấu mốc 100 năm thành lập Đảng (năm 2030) và 100 năm thành lập nước (năm 2045). Đây không chỉ là phép thử về năng lực điều hành và sức chống chịu của nền kinh tế mà còn là bước chuyển về chất trong mô hình tăng trưởng. Thành công chỉ đến khi tăng trưởng cao đi đôi với đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất và cải cách thể chế một cách thực chất, tạo đà cho phát triển nhanh nhưng bền vững trong dài hạn.
Kinh tế số được kỳ vọng trở thành 'đầu tàu' tăng trưởng, mở ra không gian phát triển mới cho Việt Nam, nhưng để biến tiềm năng thành hiện thực, vẫn cần những thay đổi mạnh mẽ từ chính sách đến thực thi.
Ấn phẩm Đánh giá kinh tế Việt Nam thường niên năm 2025 của Đại học Kinh tế Quốc dân chỉ ra rằng tỷ trọng đầu tư của khu vực tư nhân trong nước đang có xu hướng suy giảm trong khi đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đã chuyển sang mức âm... Điều này cho thấy các giải pháp tăng trưởng cho năm 2026 cần tập trung vào cải cách thể chế và kinh tế số
Các chuyên gia cho rằng, để kinh tế số đạt mục tiêu khoảng 30% GDP vào năm 2030, Việt Nam cần tháo gỡ các rào cản về thể chế, đầu tư và chất lượng phát triển.
Nghị quyết của Quốc hội đặt mục tiêu GDP tăng bình quân từ 10%/năm, đưa Việt Nam vào nhóm 30 nền kinh tế có quy mô lớn nhất thế giới vào 2030.
Tăng trưởng xanh đang trở thành động lực phát triển mới, nhưng để hiện thực hóa cần vượt qua các 'điểm nghẽn' về vốn, công nghệ và tổ chức thực thi.
Trong bối cảnh kinh tế số tăng nhanh, nhưng đang có sự suy giảm của các yếu tố chiều sâu như công nghệ, quản trị và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Câu hỏi đặt ra là Việt Nam đang tạo ra giá trị hay chỉ dừng ở 'gia công số'?
Kinh tế thế giới ngày càng bất định và tình hình chiến sự Trung Đông căng thẳng, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên, phản ánh quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong việc tạo đà tăng tốc ngay từ đầu chu kỳ phát triển mới.
Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng chỉ ra một trong 3 trụ cột để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, bền vững trong năm nay là phát huy vai trò của các thành phần kinh tế, gồm: kinh tế Nhà nước, tư nhân và FDI.
Phó Thủ tướng nhấn mạnh, lấy khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực tăng trưởng chính; phát triển các động lực tăng trưởng mới, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Thống kê sơ bộ, giai đoạn phát triển mới cần khoảng 38 triệu tỷ đồng, vốn Nhà nước dự kiến đáp ứng 8,5 triệu tỷ, gần 30 triệu tỷ còn lại sẽ được huy động từ đâu?
Nhấn mạnh tăng trưởng hai con số phải đến từ thực chất, các ĐBQH đề nghị, cần tiếp tục có đột phá về thể chế mạnh hơn nữa, đặc biệt là phân cấp, phân quyền thực chất hơn cho địa phương; giải phóng mạnh mẽ các nguồn lực, nhất là đất đai và đầu tư tư nhân; tái cấu trúc cơ chế dẫn vốn của nền kinh tế để dòng vốn đi đúng địa chỉ, đúng nhu cầu và phục vụ trực tiếp các động lực tăng trưởng.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số đặt nền công nghiệp Việt Nam vào một phép thử lớn về năng lực nội sinh, từ thể chế, công nghệ đến vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Tăng trưởng xanh đang trở thành định hướng chiến lược cho phát triển dài hạn của Việt Nam trong bối cảnh các giới hạn sinh thái ngày càng rõ rệt. Các nghiên cứu khoa học hiện đại khẳng định, nền kinh tế phụ thuộc trực tiếp vào vốn tự nhiên và dịch vụ hệ sinh thái (Dasgupta, 2021). Nếu tiếp tục mô hình tăng trưởng thâm dụng tài nguyên, nền kinh tế sẽ đối mặt với rủi ro suy giảm năng suất và bất ổn vĩ mô. Vì vậy, chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo, năng suất, năng lượng sạch và quản trị tài nguyên bền vững là yêu cầu tất yếu, tạo nền tảng để Việt Nam duy trì tăng trưởng cao đồng thời bảo vệ hệ sinh thái và nâng cao chất lượng phát triển.
Khi ngân sách có hạn, mục tiêu tăng trưởng hai con số phụ thuộc vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả 30 triệu tỷ đồng ngoài Nhà nước.
Mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026 - 2030 thể hiện rõ khát vọng bứt phá của Việt Nam trong giai đoạn phát triển 5 năm tới. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, bài toán đặt ra là tăng trưởng nhanh cần gắn với giữ vững ổn định vĩ mô và nâng chất lượng tăng trưởng.
Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10% mỗi năm giai đoạn 2026-2030 được đánh giá là khả thi, song cũng đặt ra áp lực lớn về điều hành và phối hợp chính sách. Trong bức tranh chung đó, ngành xây dựng - một trong những trụ cột của nền kinh tế đang được kỳ vọng đóng vai trò dẫn dắt thông qua đầu tư hạ tầng, ổn định thị trường và nâng cao hiệu quả thực thi.
Mục tiêu của đất nước là phát triển nhanh, bền vững, đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế quy mô hàng đầu thế giới.
Tăng trưởng chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng với nâng cao năng suất, cải thiện hiệu quả sử dụng nguồn lực và tạo ra giá trị gia tăng thực chất cho nền kinh tế.
Chính phủ đặt mục tiêu nâng thu nhập người dân, mở rộng tầng lớp trung lưu và bảo đảm an sinh xã hội trong kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm tới.
Trong bối cảnh các động lực tăng trưởng truyền thống dần tiệm cận giới hạn, kinh tế số (KTS) đang nổi lên như một trụ cột mới của nền kinh tế Việt Nam. Không chỉ mở rộng không gian phát triển, KTS còn mở ra dư địa nâng cao năng suất và thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu. Tuy nhiên, để thực sự trở thành 'đòn bẩy' cho mục tiêu tăng trưởng bứt phá, KTS cần được thúc đẩy bằng những giải pháp đồng bộ.
Bên lề Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, một số Đại biểu cho rằng, mục tiêu tăng trưởng hai con số là thách thức lớn nhưng hoàn toàn có thể đạt được nếu tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, đồng thời phát huy đồng bộ các động lực phát triển trong bối cảnh mới.
Cạnh tranh thu hút đầu tư toàn cầu ngày càng gay gắt, lợi thế không chỉ đến từ chi phí mà ngày càng phụ thuộc vào chất lượng thể chế, mức độ minh bạch và khả năng dự đoán của chính sách. Trong bối cảnh đó, trọng tâm là những cải cách quyết liệt và thực thi nhất quán nhằm biến các cam kết thành kết quả phát triển cụ thể.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao, cần sự đồng hành thực chất giữa chính quyền và doanh nghiệp, từ thể chế, tài chính đến hạ tầng, nhân lực. Khi các 'nút thắt' được tháo gỡ, công nghiệp hỗ trợ sẽ trở thành động lực quan trọng, thúc đẩy Thủ đô và cả nước tăng trưởng hai con số trong giai đoạn mới.
Trong mục tiêu tăng trưởng cao, đầu tư công không còn được đặt ra như một nhiệm vụ giải ngân thuần túy. Đầu tư công đang trở thành lực kéo cho toàn bộ nền kinh tế. Bên cạnh đó, định hướng phát triển công nghệ, chất lượng nhân lực và năng suất sẽ thiết lập nền tảng cho tăng trưởng một cách bền vững hơn.