Thấy gì từ đề xuất chuyển EVN về Bộ Công Thương?
Đề xuất chuyển Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) từ Bộ Tài chính về Bộ Công Thương làm cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước đang đặt ra những vấn đề đáng quan tâm về mô hình quản trị ngành điện. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng nhanh, áp lực đầu tư nguồn và lưới điện ngày càng lớn, việc thay đổi cơ quan đại diện chủ sở hữu được kỳ vọng tăng cường khả năng điều phối nguồn lực, song cũng đòi hỏi cơ chế phân định trách nhiệm rõ ràng, bảo đảm quyền tự chủ doanh nghiệp và phát triển thị trường điện cạnh tranh.

Đề xuất chuyển EVN về Bộ Công Thương là chủ để đang được quan tâm đặc biệt. Ảnh minh họa
Trong báo cáo tóm tắt về các giải pháp bảo đảm cung ứng điện giai đoạn 2026-2030 và điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, Bộ Công Thương đã đề xuất Chính phủ đồng ý chủ trương chuyển EVN về Bộ Công Thương làm cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước, nhằm bảo đảm lực lượng và nguồn lực triển khai quy hoạch sau khi được phê duyệt. Hiện nay, quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại EVN do Bộ Tài chính thực hiện. Đề xuất này đang ở bước kiến nghị chủ trương, chưa đồng nghĩa với việc thay đổi cơ quan đại diện chủ sở hữu đã được quyết định.
Áp lực lớn
Kiến nghị trên được đưa ra trong bối cảnh ngành điện đứng trước yêu cầu vừa bảo đảm cung ứng năng lượng cho nền kinh tế, vừa đẩy nhanh tiến độ thực hiện hàng loạt dự án nguồn và lưới điện quan trọng. Theo đánh giá của Bộ Công Thương, nhu cầu điện thương phẩm giai đoạn 2026-2030 dự kiến tăng bình quân 11,9-14,3% mỗi năm, trong khi công suất phụ tải cực đại có thể tăng 13,3-15,9% mỗi năm. Một số khu vực, đặc biệt là Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ, xuất hiện nhu cầu phụ tải tăng mạnh, đặt ra yêu cầu cập nhật dự báo và bố trí nguồn cung phù hợp.
Áp lực này còn được thể hiện qua nhu cầu đầu tư rất lớn của toàn ngành. Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025, tổng vốn đầu tư phát triển nguồn và lưới điện truyền tải giai đoạn 2026-2030 ước khoảng 136,3 tỷ USD. Trong đó, đầu tư nguồn điện cần khoảng 118,2 tỷ USD, lưới điện truyền tải khoảng 18,1 tỷ USD. Đây là nhu cầu vốn của toàn ngành, bao gồm nhiều thành phần kinh tế, không phải số vốn EVN phải tự thu xếp.
Trong khi đó, quá trình triển khai các dự án điện vẫn còn không ít khó khăn. Bộ Công Thương đánh giá tiến độ thực hiện nhiều dự án nguồn điện tại các địa phương còn chậm, tiềm ẩn rủi ro đối với khả năng bảo đảm cung ứng điện trong những năm tới. Để ứng phó, Bộ Công Thương đã đề xuất điều chỉnh Quy hoạch điện VIII theo hai bước, trước mắt cập nhật, bổ sung những nguồn điện có khả năng triển khai nhanh nhằm bù đắp nguy cơ thiếu hụt do các dự án chậm tiến độ, sau đó tiến hành điều chỉnh tổng thể theo quy định pháp luật.
Thực tế cho thấy, từ quy hoạch đến triển khai dự án là một quá trình phức tạp, liên quan đến công tác chuẩn bị đầu tư, huy động vốn, giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ tầng truyền tải và cơ chế mua bán điện. Chỉ cần một khâu chậm tiến độ cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng đưa nguồn điện vào vận hành đúng kế hoạch. Bởi vậy, yêu cầu phối hợp đồng bộ giữa cơ quan quản lý chuyên ngành, cơ quan đại diện chủ sở hữu và các doanh nghiệp đầu tư điện ngày càng trở nên cấp thiết.
Trong bức tranh đó, EVN tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong hoạt động đầu tư hạ tầng, truyền tải, phân phối và cung cấp điện. Theo báo cáo của EVN công bố ngày 6-10-2026, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống trong 9 tháng đầu năm đạt 265,79 tỷ kWh, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2025. Sản lượng điện truyền tải đạt khoảng 213,98 tỷ kWh, tăng 10,75%. Cùng thời gian, EVN và các đơn vị đã khởi công 136 công trình, đóng điện 131 công trình lưới điện từ 110kV đến 500kV.
Về tài chính, tại buổi làm việc với lãnh đạo Chính phủ trong tháng 9-2026, lãnh đạo EVN cho biết, doanh thu toàn tập đoàn trong 8 tháng đầu năm đạt 482.042 tỷ đồng, lợi nhuận ước đạt 12.215 tỷ đồng. Giá trị khối lượng đầu tư đạt 76.820 tỷ đồng, trong khi số vốn giải ngân đạt 69.535 tỷ đồng. EVN cũng thông tin đã xử lý hết số lỗ lũy kế từ những năm trước tính đến ngày 30/6/2026. Tuy nhiên, nhu cầu huy động vốn dài hạn cho các dự án điện vẫn là thách thức lớn đối với doanh nghiệp.
Những con số trên phần nào phản ánh nỗ lực cải thiện hoạt động sản xuất, kinh doanh và đầu tư của EVN sau giai đoạn nhiều khó khăn. Song, trong bối cảnh nhu cầu điện tiếp tục tăng, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì khả năng cung cấp điện trước mắt mà còn phải bảo đảm nguồn lực phát triển hệ thống trong dài hạn.
Từ góc độ đó, đề xuất chuyển EVN về Bộ Công Thương có thể được xem xét như một phương án tăng cường sự gắn kết giữa công tác quản lý, xây dựng chính sách ngành điện với việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, mức độ tác động thực tế vẫn cần được đánh giá trên cơ sở những vướng mắc cụ thể mà mô hình hiện hành đang gặp phải, cũng như khả năng tháo gỡ các vướng mắc đó sau khi thay đổi.

EVN đang hướng tới xây dựng một thị trường điện cạnh tranh trong tương lai. Ảnh minh họa
Hướng tới thị trường điện cạnh tranh
Các chuyên gia nhận định, một trong những vấn đề đáng quan tâm từ đề xuất chuyển EVN về Bộ Công Thương là mối quan hệ giữa chức năng quản lý nhà nước về ngành điện và quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp. Đây là hai chức năng có phạm vi và trách nhiệm khác nhau, đòi hỏi cơ chế thực hiện phù hợp để vừa nâng cao hiệu quả quản trị, vừa bảo đảm tính minh bạch của thị trường.
Với vai trò cơ quan quản lý ngành, Bộ Công Thương thực hiện chức năng xây dựng, tổ chức triển khai chính sách, quy hoạch và quản lý hoạt động điện lực theo thẩm quyền. Trong khi đó, cơ quan đại diện chủ sở hữu thực hiện quyền, trách nhiệm đối với phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, gắn với mục tiêu bảo toàn, phát triển vốn và nâng cao hiệu quả hoạt động. Việc hai chức năng này được thực hiện tại cùng một cơ quan có thể tạo thuận lợi trong phối hợp, nhưng cũng đặt ra yêu cầu phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm giải trình.
Về nguyên tắc, Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp số 68/2025/QH15 đã xác lập yêu cầu quản lý vốn nhà nước gắn với quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp; đồng thời quy định cơ quan đại diện chủ sở hữu và cơ quan quản lý nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư và quản trị doanh nghiệp trái với quy định pháp luật. Đây là cơ sở quan trọng cần được xem xét khi nghiên cứu phương án thay đổi cơ quan đại diện chủ sở hữu EVN.
Vấn đề càng đáng chú ý khi đề xuất chuyển EVN được đặt trong tiến trình tái cơ cấu toàn ngành điện. Tại họp báo thường kỳ quý III/2026 của Bộ Công Thương vừa diễn ra đầu tháng 10-2026 vừa qua, ông Bùi Quốc Hùng, Phó Cục trưởng Cục Điện lực cho biết, hiện có hai đề án liên quan đang được triển khai. Trong đó, Bộ Công Thương xây dựng Đề án tái cơ cấu ngành điện phục vụ phát triển thị trường điện cạnh tranh; Bộ Tài chính xây dựng Đề án tái cơ cấu Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Cả hai đề án đã được trình Chính phủ ngày 15-9-2026.
Theo thông tin từ đại diện Cục Điện lực, định hướng tái cơ cấu ngành điện không chỉ giới hạn trong phạm vi EVN mà liên quan đến nhiều doanh nghiệp tham gia hoạt động phát điện, truyền tải, phân phối và kinh doanh điện. Một số phương án đang được nghiên cứu gồm tổ chức lại lĩnh vực phát điện, định hướng tách Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia khỏi EVN, từng bước tách bạch hoạt động phân phối và bán lẻ điện. Những nội dung này vẫn thuộc quá trình nghiên cứu, hoàn thiện đề án, chưa phải các quyết định tổ chức đã có hiệu lực.
Thực tế, cơ cấu ngành điện đã có những thay đổi quan trọng trong những năm gần đây, với sự tham gia ngày càng lớn của các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế. EVN không còn là đơn vị duy nhất đầu tư và sở hữu nguồn phát điện. Cùng với đó, việc tổ chức vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia đã được tách khỏi EVN, tạo tiền đề tăng tính độc lập trong điều độ và vận hành thị trường.
Theo các chuyên gia kinh tế, trong điều kiện thị trường điện tiếp tục phát triển, sự minh bạch trong điều hành, tiếp cận hệ thống truyền tải, huy động nguồn điện và thực hiện các giao dịch mua bán điện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nếu cơ quan quản lý ngành đồng thời thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu tại một doanh nghiệp lớn, cơ chế giám sát cần bảo đảm các chủ thể tham gia thị trường được đối xử bình đẳng theo quy định pháp luật, không để phát sinh xung đột giữa yêu cầu quản lý chung và lợi ích của một doanh nghiệp cụ thể.
Ở chiều ngược lại, yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng cũng đòi hỏi có những doanh nghiệp đủ năng lực thực hiện các nhiệm vụ đầu tư hạ tầng thiết yếu, nhất là những dự án có quy mô vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài và hiệu quả tài chính không phải lúc nào cũng hấp dẫn nhà đầu tư. Bởi vậy, việc hoàn thiện mô hình quản trị EVN cần được đặt trong mối quan hệ hài hòa giữa nhiệm vụ phục vụ lợi ích chung, hiệu quả sử dụng vốn nhà nước và yêu cầu cạnh tranh của thị trường.
Một vấn đề khác không thể bỏ qua là khả năng huy động vốn và quyền tự chủ trong quyết định đầu tư. Dù trực thuộc cơ quan đại diện chủ sở hữu nào, EVN vẫn phải đáp ứng những yêu cầu về năng lực tài chính, quản trị rủi ro, hiệu quả đầu tư và trách nhiệm giải trình. Những khó khăn về cơ chế giá điện, khả năng thu xếp vốn, thủ tục đầu tư hay tiến độ giải phóng mặt bằng cũng không thể được giải quyết chỉ bằng việc thay đổi cơ quan đại diện chủ sở hữu.
Do đó, các chuyên gia cho rằng, nếu đề xuất chuyển EVN được xem xét chấp thuận, cần có phương án cụ thể về phân cấp, phân quyền, cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành và trách nhiệm của từng chủ thể. Đồng thời, quá trình chuyển giao phải bảo đảm hoạt động sản xuất, kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp được duy trì ổn định, không làm gián đoạn việc triển khai những dự án điện quan trọng.
Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/thay-gi-tu-de-xuat-chuyen-evn-ve-bo-cong-thuong-1761044.html


