Dù xuất khẩu 9 tháng đầu năm chạm mốc 13,3 tỉ USD và hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số, nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ lại đang rơi vào tình cảnh kiệt quệ dòng tiền khi hàng tỉ đồng tiền thuế giá trị gia tăng bị tắc nghẽn giữa khâu nhập khẩu và hoàn thuế.
Năm ngoái, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đem về 17,2 tỷ USD và đặt mục tiêu 20 tỷ USD vào năm 2026. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp trong ngành vẫn loay hoay làm gia công cho khách hàng nước ngoài.
Việc chưa thống nhất cách áp dụng thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với gỗ nguyên liệu nhập khẩu khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó thông quan, xử lý hóa đơn và hoàn thuế.
Với thị trường nội địa hơn 100 triệu dân và dư địa tiêu dùng còn lớn, ngành gỗ Việt Nam đứng trước cơ hội hình thành động lực tăng trưởng mới bên cạnh xuất khẩu. Theo các chuyên gia, để khai thác hiệu quả tiềm năng này, cần tháo gỡ những điểm nghẽn về tiêu chuẩn, nguồn gốc nguyên liệu và hệ thống phân phối, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm.
Bộ Công Thương đang xây dựng Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, với kịch bản đặt ra 3 mục tiêu: Tăng trưởng cao, trung bình, thấp. Trong đó, với mục tiêu tăng trưởng cao, kim ngạch xuất khẩu sẽ vượt 1.000 tỷ USD.
Hướng đi mới của ngành gỗ Việt Nam sẽ phải là công nghệ, đổi mới sáng tạo, thiết kế, thương hiệu, thị trường và phát triển xanh.
Việt Nam đặt mục tiêu xuất khẩu tăng 15 - 16% mỗi năm giai đoạn 2026 - 2030, đồng thời nâng tỷ trọng doanh nghiệp trong nước và hàng công nghệ cao. Theo Bộ Công Thương, tăng kim ngạch phải đi cùng nâng cao giá trị gia tăng, năng lực sản xuất và khả năng tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp Việt.
Chiến lược xuất nhập khẩu đến năm 2030, tầm nhìn 2045 hướng tới tăng trưởng bền vững, nâng cao giá trị gia tăng, phát huy vai trò doanh nghiệp trong nước và tăng sức cạnh tranh hàng hóa Việt Nam.
Góp ý Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, các hiệp hội kiến nghị nâng giá trị gia tăng, phát triển thương hiệu và cụ thể hóa giải pháp thực thi.
Việt Nam hiện có khoảng 2,5 triệu ha rừng keo, chiếm phần lớn diện tích rừng keo của thế giới. Thế nhưng khoảng 80% sản lượng gỗ keo vẫn được đưa vào sản xuất dăm gỗ và viên nén, đặt ra bài toán chuyển từ bán nguyên liệu giá trị thấp sang chế biến sâu, tạo giá trị cao hơn.
Với khoảng 2,5 triệu ha rừng keo, Việt Nam đang sở hữu nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành gỗ, gắn với sinh kế của khoảng 1,5 triệu hộ gia đình. Tuy nhiên, phần lớn gỗ rừng trồng vẫn được sử dụng để sản xuất dăm gỗ và viên gỗ nén.
Việt Nam hiện có diện tích rừng trồng keo lớn nhất thế giới, nhưng phần lớn sản lượng vẫn được dùng để sản xuất dăm gỗ và viên nén - những sản phẩm có giá trị gia tăng thấp.
Với khoảng 2,5 triệu hécta rừng keo, Việt Nam đang nắm lợi thế lớn về nguồn nguyên liệu cho ngành gỗ. Bài toán đặt ra là phải nâng chất lượng rừng, đổi mới công nghệ, tổ chức lại chuỗi giá trị để mỗi mét khối gỗ tạo nhiều giá trị hơn.
Với khoảng 2,5 triệu ha, cây keo là nguồn nguyên liệu chủ lực của ngành gỗ. Bài toán đặt ra là nâng chất lượng rừng, phát triển gỗ lớn, giảm dăm gỗ và gia tăng giá trị cho mỗi hecta rừng.
Với khoảng 2,5 triệu ha, cây keo là nguyên liệu quan trọng của ngành gỗ, nhưng phần lớn vẫn phục vụ dăm, viên nén. Nâng giá trị đòi hỏi thay đổi từ rừng đến sản phẩm.
Trong bối cảnh thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đang phân hóa mạnh cùng yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng cao, nguồn nguyên liệu rừng trồng trong nước đang trở thành lợi thế quan trọng, giúp ngành gỗ giảm phụ thuộc nhập khẩu và nâng sức cạnh tranh...
Được đánh giá có dư địa tăng trưởng lớn song trên thực tế, để biến tiềm năng thành động lực, ngành gỗ Việt Nam cần tạo dựng một thị trường minh bạch, chuẩn mực, rõ ràng về nguồn gốc sản phẩm...
Trong bối cảnh thị trường quốc tế còn nhiều biến động, khai thác hiệu quả thị trường trong nước đang được ngành gỗ xác định là hướng đi quan trọng để đa dạng hóa đầu ra, nâng giá trị sản phẩm và tạo thêm động lực tăng trưởng.
Sau nhiều năm mở rộng sản xuất và thị trường, Việt Nam đã trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng nông, lâm sản toàn cầu. Gỗ, cà phê, cao su đều có vị trí đáng kể trên thị trường thế giới. Tuy nhiên, phía sau lợi thế về sản lượng và quy mô xuất khẩu vẫn là khoảng cách về khả năng nắm giữ những khâu tạo ra giá trị cao như công nghệ, thiết kế, thương hiệu, tiêu chuẩn và dữ liệu.
Hiệp định RCEP cần được coi là cơ hội để ngành gỗ Việt Nam đa dạng hóa thị trường, tái cấu trúc chuỗi cung ứng, khẳng định giá trị thay vì chỉ gia công theo đơn đặt hàng.
Đồ gỗ và thép bước vào mùa nước rút 3 tháng cuối năm, khi thêm hàng được đẩy ra thị trường nội địa nhưng cạnh tranh cũng nóng lên bởi hàng giá thấp, hàng nhập khẩu và sức mua phân hóa. Sân nhà chỉ thành lực đỡ khi doanh nghiệp Việt thoát cuộc đua giá, nâng chuẩn sản phẩm, minh bạch nguồn gốc và kiểm soát nguồn cung, thay vì “làm nhanh, bán gấp”.
Trong khi sản phẩm gỗ xuất khẩu phải đáp ứng ngày càng nhiều yêu cầu về nguồn gốc hợp pháp, truy xuất và tiêu chuẩn môi trường, thị trường nội địa vẫn còn thiếu những chuẩn mực thống nhất. Xây dựng một thị trường gỗ minh bạch và an toàn đang trở thành yêu cầu cấp thiết để phát triển bền vững ngành gỗ Việt Nam.
Trong bối cảnh xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tiếp tục tăng trưởng, phát triển thị trường nội địa được xác định là hướng đi cần thiết nhằm mở rộng đầu ra, nâng cao giá trị sản phẩm và thúc đẩy ngành gỗ Việt Nam phát triển bền vững.
Ngày 2/10, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ Thành phố Hồ Chí Minh (HAWA) phối hợp Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cùng các đơn vị liên quan tổ chức hội thảo với chủ đề “Xây dựng thị trường gỗ nội địa hợp pháp, chất lượng và bền vững”.
Đó là nhận định của ông Nguyễn Hoài Bảo - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM (HAWA) tại Hội thảo “Thị trường gỗ nội địa - Chuẩn mực, hợp pháp, chất lượng và bền vững” do HAWA phối hợp cùng Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam và Forest Trends tổ chức ngày 2/10.
Với quy mô hơn 100 triệu người tiêu dùng và nhu cầu ngày càng tăng đối với nhà ở, xây dựng, nội thất và không gian sống, thị trường trong nước đang mở ra dư địa lớn cho ngành gỗ Việt Nam.
Ngày 2-10, tại TPHCM, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam phối hợp Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM (HAWA) tổ chức hội thảo “Xây dựng thị trường gỗ nội địa hợp pháp, chất lượng và bền vững”.
Ngành nội thất Việt Nam có thêm dư địa phát triển từ thị trường nội địa hơn 100 triệu dân, đồng thời hướng tới nâng cao giá trị chuỗi sản xuất từ rừng trồng, chế biến gỗ đến thiết kế và hoàn thiện không gian sống.
Việt Nam đang ngày càng giữ vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng nông, lâm sản toàn cầu, với nhiều ngành hàng có quy mô xuất khẩu lớn như gỗ, cà phê, cao su. Tuy nhiên, từ vị thế một quốc gia cung ứng lớn đến khả năng làm chủ giá trị, công nghệ, thương hiệu... vẫn còn một khoảng cách đáng kể.
Việt Nam có thế mạnh về xuất khẩu gỗ, cà phê, cao su nhưng phần lớn vẫn ở khâu nguyên liệu và gia công. Muốn nâng vị thế trên thị trường thế giới, các ngành hàng cần chuyển từ làm theo luật chơi sang chủ động tạo ra giá trị và tham gia định hình thị trường.
Sau 20 năm, xuất khẩu gỗ Việt Nam tăng hơn 57 lần, nhưng doanh nghiệp vẫn chủ yếu ở khâu sản xuất. Bài toán mới là nâng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Khâu xác minh kéo dài, chính sách áp dụng chưa thống nhất đang khiến nhiều hồ sơ hoàn thuế GTGT bị chậm, doanh nghiệp chờ hướng dẫn để giải phóng dòng vốn.
Hàng loạt doanh nghiệp, hiệp hội tiếp tục phản ánh vướng mắc trong hoàn thuế giá trị gia tăng, trong đó có hồ sơ kéo dài nhiều năm với số tiền hàng chục tỷ đồng. Lãnh đạo Cục Thuế yêu cầu cơ quan thuế địa phương trả lời rõ doanh nghiệp được hoàn bao nhiêu, không được hoàn bao nhiêu, lý do và thời gian xác minh.
Từ vị thế quan trọng trong nguồn cung gỗ, cà phê, cao su toàn cầu, Việt Nam cần chuyển từ làm tốt khâu sản xuất, đáp ứng tiêu chuẩn sang chủ động xây dựng thương hiệu, tiêu chuẩn và tham gia định hình luật chơi của thị trường...
Gỗ, cà phê, cao su đã tạo vị thế xuất khẩu đáng kể, nhưng phần giá trị Việt Nam giữ lại trong chuỗi toàn cầu vẫn cần tiếp tục được cải thiện. Bài toán đặt ra là chuyển từ sản xuất theo yêu cầu sang làm chủ sản phẩm, tiêu chuẩn, dữ liệu và thương hiệu.
Việt Nam đã có vị thế đáng kể trên thị trường thế giới về gỗ, cà-phê, cao su, song doanh nghiệp trong nước vẫn chủ yếu tập trung vào sản xuất, chế biến và xuất khẩu, chưa tham gia sâu vào các khâu tạo giá trị gia tăng cao.
Gỗ, cà phê, cao su đã có vị thế trên thị trường thế giới, nhưng doanh nghiệp Việt vẫn chưa nắm được những khâu tạo giá trị cao và chưa có tiếng nói tương xứng trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Ngày 22/9, tại Hà Nội, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức Hội thảo Quy định về chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) và những điều doanh nghiệp cần biết. Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký, Trưởng ban Pháp chế VCCI dự và chủ trì Hội thảo.
Đơn hàng, thị trường và năng suất đang trở thành những động lực để doanh nghiệp tăng tốc sản xuất, mở rộng tiêu thụ, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.
Dù có nhiều tín hiệu lạc quan nhưng ngành gỗ vẫn đang phải đối mặt với không ít khó khăn, áp lực... Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp gỗ đã và đang đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường, nâng tỷ trọng chế biến sâu và phát triển nguồn nguyên liệu bền vững.
Theo Cục Hải quan, “viên nén đen đã gia nhiệt” có bản chất là than sinh học thuộc nhóm 44.02, chịu thuế xuất khẩu 5% - mức thấp nhất trong khung hiện hành. Kiến nghị bỏ thuế đối với một số mặt hàng gỗ lạng sẽ được tổng hợp, xem xét khi sửa Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Trong bối cảnh thị trường Mỹ gia tăng sức ép phòng vệ thương mại, ngành gỗ Việt Nam đang đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường, nâng tỷ trọng chế biến sâu và phát triển nguồn nguyên liệu bền vững, hướng tới mục tiêu tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản ngoài gỗ gần 20 tỷ USD trong năm 2026.
Với quy mô khoảng 5-7 tỷ USD cùng sức mua của thị trường hơn 100 triệu dân, dư địa phát triển của ngành gỗ và nội thất Việt Nam ngay tại “sân nhà” còn rất lớn. Tuy nhiên, để biến tiềm năng này thành động lực tăng trưởng thực sự, thị trường nội địa cần được đầu tư bài bản từ tiêu chuẩn, dữ liệu, hệ thống phân phối đến các mắt xích có giá trị gia tăng cao, thay vì chỉ là “phương án dự phòng” khi thị trường bên ngoài gặp khó.
Việt Nam hiện có khoảng 4 triệu héc ta rừng trồng sản xuất với sự tham gia của hơn 1 triệu hộ trồng rừng và hàng nghìn doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu. Tuy nhiên, chuỗi liên kết lỏng lẻo đang là hạn chế lớn nhất khiến ngành gỗ Việt khó nâng cao giá trị gia tăng.
Sự thay đổi nhanh chóng, liên tục của nền kinh tế số đòi hỏi doanh nghiệp cần có sự linh hoạt, khả năng thích nghi tốt với sự thay đổi để duy trì và tăng cường vị thế trên thị trường.
Ngành gỗ Việt Nam đã hiện diện tại 167 quốc gia và vùng lãnh thổ nhưng phần giá trị doanh nghiệp trong nước được hưởng vẫn còn hạn chế. Theo lãnh đạo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), chậm chuyển đổi số đang khiến doanh nghiệp khó nâng cao vị thế và thoát khỏi mô hình gia công trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Xuất khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ sang thị trường lớn thứ hai là Trung Quốc trong 7 tháng đầu năm tăng vọt 46% lên 1,5 tỷ USD. Điều này giúp tỷ trọng doanh thu từ thị trường này mở rộng hơn 4 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm ngoái lên 15%.