Câu hỏi của chặng phát triển mới không còn dừng ở việc chúng ta có bao nhiêu nguồn lực, mà là có thể tổ chức, kết nối và chuyển hóa những nguồn lực ấy đến đâu. Từ thể chế và môi trường kinh doanh đến sức sống của doanh nghiệp địa phương, từ niềm tin của người trở về quê đến cách ứng xử với di sản và căn tính miền Trung, những câu trả lời gặp nhau ở một điểm: phát triển phải để lại năng lực lớn hơn cho con người và vùng đất, để ngày mai có thể tự tạo ra những cơ hội mới.
Việt Nam có nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, nhưng để biến những giá trị ấy thành sản phẩm có sức cạnh tranh, cần kết nối di sản, công nghệ, nguồn lực doanh nghiệp và thị trường.
HNN.VN - Lễ công bố Mạng lưới Phát triển Công nghiệp văn hóa Việt Nam và danh mục 17 bài toán trọng tâm năm 2026 diễn ra đúng dịp kỷ niệm Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10). Thời điểm ấy làm rõ thông điệp: doanh nghiệp, doanh nhân phải trở thành chủ thể chuyển hóa bản sắc và sức sáng tạo Việt Nam thành sản phẩm, việc làm và động lực tăng trưởng. Trong phát biểu khai mạc, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh nhấn mạnh vai trò chủ động của cơ quan quản lý trong nêu bài toán, kết nối đối tác và thúc đẩy thực hiện.
Việc kết nối Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc 18/11 với Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 để hình thành một chuỗi hoạt động “tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc” không chỉ tạo thêm một không gian sinh hoạt văn hóa trong đời sống xã hội. Sâu xa hơn, đây là cách đặt văn hóa trở lại đúng vị trí của nó: Một nền tảng tinh thần, một nguồn lực nội sinh và một sức mạnh gắn kết cộng đồng.
Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia được kỳ vọng cung cấp nguồn tài nguyên chung cho các ngành sáng tạo, từ điện ảnh, trò chơi điện tử đến du lịch và thiết kế.
Chiều 12/10, tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Lễ ra mắt Mạng lưới phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam và 16 sáng kiến trọng tâm từ hạ tầng sáng tạo đến thương hiệu quốc tế.
Từ lợi thế là vùng đất có hệ thống di sản phong phú, bản sắc văn hóa đặc trưng và thương hiệu văn hóa đã được khẳng định, Huế đang tìm hướng đưa các giá trị di sản bước sâu hơn vào đời sống kinh tế đương đại. Bài toán đặt ra không chỉ là bảo tồn những gì cha ông để lại, mà còn tạo ra sản phẩm, thị trường và sinh kế từ di sản, để văn hóa vừa được gìn giữ, vừa trở thành nguồn lực cho phát triển.
Phát biểu tại Hội thảo “Phát huy giá trị văn hóa Việt Nam thành một động lực quan trọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” sáng 10/10, Phó Chủ tịch UBND thành phố Huế Trần Hữu Thùy Giang cho biết, TP. Huế hướng đến xây dựng một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, xác định rõ không gian đối tượng ưu tiên bảo tồn và không gian dành cho phát triển.
Chuyển đổi số không thay thế giá trị cốt lõi của văn hóa, mà mở ra phương thức mới để bảo tồn, phát huy di sản, mở rộng khả năng tiếp cận của công chúng và thúc đẩy sáng tạo. Khi công nghệ gắn với nhu cầu thực tiễn, tài nguyên văn hóa sẽ có thêm cơ hội trở thành nguồn lực cho phát triển bền vững.
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 9/10/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Thông báo số 156-TB/VPTW của Văn phòng Trung ương Đảng thông báo ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về công tác bảo tồn, bảo tàng (Kế hoạch).
Sau hơn 4 năm thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 22/2/2022 của Thành ủy Hà Nội về phát triển công nghiệp văn hóa, nhận thức về vai trò của văn hóa đã có chuyển biến rõ nét. Hà Nội là địa phương đầu tiên trong cả nước ban hành Nghị quyết chuyên đề về lĩnh vực này, xác định văn hóa không chỉ là đối tượng cần bảo tồn, gìn giữ mà còn là nguồn lực nội sinh, có khả năng tạo ra giá trị kinh tế, việc làm, sản phẩm và sức cạnh tranh cho Thủ đô.
Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, nhưng trong kỷ nguyên số, bài toán không chỉ dừng ở bảo tồn nguồn lực sẵn có, mà còn là sáng tạo trên nền tảng di sản, xác lập và quản trị quyền sở hữu trí tuệ để tạo ra những giá trị kinh tế bền vững.
Ngày 8/10, tại Hà Nội, Diễn đàn “Công nghệ số và AI trong kiến tạo nền kinh tế sáng tạo - Từ tài nguyên văn hóa đến năng lực cạnh tranh quốc gia” được tổ chức. Diễn đàn tập trung bàn về việc khai thác tài nguyên văn hóa để hình thành IP, sản phẩm, thương hiệu và mô hình kinh doanh mới.
Ngoại giao văn hóa cần được nhìn nhận rộng hơn hoạt động giao lưu, quảng bá hình ảnh hay tổ chức sự kiện; đó có thể là một cơ chế kết nối nguồn lực trong nước với tri thức, thị trường, công nghệ, vốn và mạng lưới quốc tế.
Tài nguyên văn hóa phong phú là một lợi thế, nhưng lợi thế ấy không tự chuyển hóa thành sản phẩm và giá trị phát triển. Từ một di sản, câu chuyện lịch sử hay loại hình nghệ thuật đến sản phẩm có khả năng tiếp cận công chúng là một chuỗi sáng tạo, sản xuất, truyền thông, phân phối.
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang đặt ra một yêu cầu rất mới: Nhà nước không chỉ quản lý, mà phải kiến tạo hệ sinh thái để nguồn lực sáng tạo, doanh nghiệp, tài sản trí tuệ và thị trường cùng vận hành.
Sở hữu kho tàng di sản phong phú, Hà Nội không chọn biến các giá trị quá khứ thành "hiện vật trưng bày" mà đang tích cực đánh thức chúng trong dòng chảy công nghiệp văn hóa. Di sản giờ đây trở thành nguồn lực cốt lõi, bệ phóng cho những sản phẩm sáng tạo mang đậm bản sắc của Thủ đô.
Việt Nam có một "kho" tài nguyên văn hóa đặc biệt phong phú, từ di sản, lịch sử, ẩm thực, làng nghề đến những câu chuyện, nhân vật và địa danh. Nhưng tài nguyên chỉ thực sự trở thành nguồn lực phát triển khi được nhận diện, sáng tạo, bảo hộ và đưa vào thị trường.
Ngày 2/10/2026, tại Hà Nội, gần 100 nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý đã tham dự Hội thảo khoa học quốc gia Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong hội nhập quốc tế” do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức.
Như kỳ trước đã đề cập, chủ trương xây dựng Ngày Văn hoá Việt Nam 24/11 trở thành thương hiệu văn hoá quốc gia gợi mở về một cách tiếp cận mới đối với phát triển văn hóa: lấy người dân làm trung tâm, đưa văn hóa ra khỏi không gian hội trường để hiện diện sinh động trong cộng đồng…
Thời gian qua, văn hóa được đặt trong một cách tiếp cận mới, đó là phải trở thành nguồn lực nội sinh, động lực tạo tăng trưởng và kiến tạo những giá trị mới. Với Thủ đô Hà Nội, nơi hội tụ nguồn tài nguyên văn hóa đặc biệt phong phú, yêu cầu này đang từng bước được cụ thể hóa bằng các cơ chế, sản phẩm, hệ sinh thái sáng tạo và những công cụ đo lường cụ thể.
Khát vọng tăng trưởng hai con số đang đặt Việt Nam trước yêu cầu phải tìm kiếm những động lực phát triển mới có chất lượng cao hơn, bền vững hơn và dựa nhiều hơn vào tri thức, con người, sáng tạo. Trong hành trình ấy, văn hóa không chỉ tạo nên nền tảng tinh thần, hệ giá trị, niềm tin, lòng yêu nước và sức mạnh đoàn kết của xã hội, mà ngày càng có khả năng chuyển hóa trực tiếp thành sản phẩm, việc làm, doanh thu, tài sản trí tuệ và sức cạnh tranh quốc gia. Vấn đề của giai đoạn mới là làm sao để sức mạnh văn hóa thực sự đi vào sức sản xuất của nền kinh tế.
AI đang bước vào điện ảnh, âm nhạc, bảo tàng, du lịch... không chỉ như một công cụ kỹ thuật mà còn như một hạ tầng mới của sáng tạo. Nhưng công nghệ càng mạnh, câu hỏi về dữ liệu văn hóa, bản quyền và vai trò của con người càng trở nên cấp thiết.
HNN - Với hệ thống di sản phong phú, Huế có nhiều lợi thế để chuyển hóa các giá trị văn hóa thành sản phẩm, dịch vụ và sinh kế. Quá trình này đã bắt đầu, nhưng để đưa di sản đến gần đời sống và thị trường vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết.
HNN - Với Huế - vùng đất có bề dày, lợi thế về văn hóa di sản, việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (PTCNVH) được kỳ vọng sẽ tạo công cụ pháp lý rõ ràng, khả thi để các địa phương phát huy lợi thế riêng; đồng thời, bảo đảm cân bằng giữa bảo tồn và phát triển, giữa quyền sáng tạo với trách nhiệm bảo vệ di sản, bản quyền và lợi ích cộng đồng.
Nghị quyết số 26-NQ/TW đặt ra yêu cầu đột phá ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, trong đó có trụ cột bản sắc và giá trị văn hóa. Để khơi dậy các giá trị di sản thành động lực tăng trưởng, phóng viên Báo Nhân Dân đã phỏng vấn Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội.
HNN - Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và đang lấy ý kiến để hoàn thiện là một bước đi đáng chú ý trong quá trình hoàn thiện thể chế phát triển văn hóa ở nước ta. Điểm đáng quan tâm không chỉ ở việc lần đầu tiên công nghiệp văn hóa được đặt trong một khuôn khổ luật riêng, mà còn ở cách tiếp cận mới: coi văn hóa không chỉ là lĩnh vực cần bảo tồn, đầu tư và hỗ trợ, mà còn là nguồn lực tạo ra giá trị kinh tế, việc làm, tài sản trí tuệ, sức cạnh tranh và sức mạnh mềm quốc gia.
Chuyển đổi số trong văn hóa giờ đây không còn chỉ là việc đưa dữ liệu lên môi trường số, mà đã trở thành điều kiện tồn tại, đồng thời là lực đẩy chủ đạo giúp gìn giữ, phát triển và nâng tầm giá trị văn hóa dân tộc...
Công nghiệp văn hóa được sinh ra từ tài năng cá nhân, nhưng không thể phát triển chỉ bằng những cá nhân tài năng. Đằng sau một sản phẩm thành công luôn là cả hệ sinh thái gồm trường học, studio, doanh nghiệp, nhà đầu tư, công nghệ, không gian sáng tạo, dữ liệu, phân phối và thị trường. Vì vậy, một trong những thách thức của Việt Nam hiện nay không phải thiếu người có khả năng sáng tạo, mà là làm sao để họ không phải đơn độc “tự bơi” giữa hệ sinh thái còn nhiều khoảng trống.
Thành công của Nghị quyết 46/2026/QH16 về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 sẽ được quyết định tại xã, phường, làng, bản và khu dân cư - nơi chính sách gặp đời sống. Mỗi đồng vốn chỉ thật sự có ý nghĩa khi đánh thức được nguồn lực cộng đồng, trao quyền cho người dân và hình thành những chuỗi giá trị kết nối văn hóa với giáo dục, sức khỏe, thể thao, du lịch và sinh kế.
Lào Cai đang đứng trước yêu cầu mới trong phát triển văn hóa. Khi không gian văn hóa được mở rộng, nguồn tài nguyên di sản ngày càng được nhận diện đầy đủ hơn, nhu cầu hưởng thụ và trải nghiệm văn hóa của người dân, du khách ngày càng đa dạng, cách làm cũ không thể phát huy hết giá trị nguồn lực này. Vì vậy, chuyển từ “quản lý văn hóa” sang “quản trị và phát triển văn hóa” không chỉ là thay đổi cách gọi, mà còn là thay đổi cách nhìn và phương thức đưa văn hóa tham gia quá trình phát triển.
Luật Phát triển đô thị mở ra không gian chính sách mới để Thành phố Hồ Chí Minh huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy công nghiệp văn hóa và chuyển hóa các giá trị văn hóa thành động lực phát triển.
Cuộc làm việc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với Bộ VHTTDL về công tác bảo tồn, bảo tàng diễn ra vào trung tuần tháng 8 vừa qua đã gợi mở những vấn đề lớn: Quản trị, bảo tồn và phát huy nguồn lực di sản văn hóa trong kỷ nguyên phát triển mới.
Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được Bộ VHTTDL chủ trì soạn thảo nhằm xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ, đưa văn hóa trở thành ngành kinh tế trọng điểm.
Vấn đề còn lại là cách chúng ta hành động. Không đóng cửa di sản để bảo tồn. Không mở cửa di sản để khai thác bằng mọi giá. Mà làm cho mỗi giá trị được bảo tồn có khả năng sinh ra tri thức, sáng tạo, sinh kế, bản sắc và sức mạnh mềm
Hơn 40.000 di tích, gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể cùng hàng triệu tài liệu, hiện vật đang tạo nên một kho dữ liệu văn hóa khổng lồ. Khi di sản bước vào không gian số, bài toán không còn chỉ là lưu giữ, mà là làm sao để dữ liệu được kết nối, khai thác và tiếp tục tạo ra giá trị mà vẫn bảo đảm quyền của các chủ thể liên quan.
Khi di sản bước vào công nghiệp văn hóa và không gian số, vấn đề đặt ra không còn là bảo tồn hay phát triển, mà là làm thế nào để cộng đồng vẫn giữ quyền kể, sáng tạo và hưởng lợi từ chính di sản đó.
HNN - Ngày 24/5/2021, ngay trong thời điểm đại dịch covid-19 đang hoành hành, Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TU về xây dựng Thừa Thiên Huế xứng tầm là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước, khu vực Đông Nam Á về văn hóa, du lịch, giai đoạn 2021 - 2025 và tầm nhìn đến năm 2030. Lần đầu tiên văn hóa và du lịch không chỉ được xác định là lĩnh vực cần được quan tâm, mà trở thành trụ cột trong chiến lược phát triển của địa phương, với mục tiêu xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước và khu vực Đông Nam Á về văn hóa, du lịch. Đây không đơn thuần là một mục tiêu phát triển ngành, mà là sự lựa chọn con đường phát triển dựa trên lợi thế khác biệt nhất của Huế: di sản, văn hóa và con người.
Nhân kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống ngành Văn hóa (28.8.1945 - 28.8.2026), các chuyên gia, nhà quản lý nhìn lại những kết quả đã đạt được, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy, phát huy giá trị di sản, đẩy mạnh văn hóa đối ngoại và đưa văn hóa trở thành nguồn lực cho phát triển bền vững.
Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, trong đó chuyển đổi số được xem là một trong những động lực quan trọng để mở rộng không gian tiếp cận, sáng tạo và lan tỏa văn hóa.
Góp ý dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, nhiều đại biểu Quốc hội kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển quan trọng về tư duy và phương thức phát triển, đưa công nghiệp văn hóa trở thành một lĩnh vực kinh tế - xã hội có hệ sinh thái, chuỗi giá trị, doanh nghiệp, tài sản trí tuệ, thị trường và cơ chế chính sách riêng.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa đòi hỏi Việt Nam vừa bảo tồn bản sắc vừa tạo động lực tăng trưởng mới, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang mở ra hành lang pháp lý đồng bộ nhằm chuyển hóa giá trị văn hóa thành tài sản trí tuệ và nguồn lực kinh tế. Mục tiêu của dự thảo không dừng ở quản lý mà hướng tới kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo hoàn chỉnh, nơi truyền thống được phát huy thành giá trị thương mại bền vững.
Sau 81 năm xây dựng và phát triển (1945-2026), ngành Văn hóa không chỉ tạo dựng một kho tàng di sản, nghệ thuật và tri thức phong phú, mà còn hình thành nguồn vốn văn hóa quan trọng để phát triển kinh tế sáng tạo.
Đại biểu Quốc hội Bùi Văn Dũng kỳ vọng, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa phải thực sự là một “luật kiến tạo”, không làm tăng thêm rào cản hành chính mà phải mở không gian sáng tạo, hình thành thị trường và khơi thông nguồn lực.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển du lịch và nhu cầu tiếp cận văn hóa ngày càng đa dạng, hệ thống bảo tàng Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện. Không chỉ là nơi lưu giữ ký ức, bảo tàng cần trở thành thiết chế văn hóa sống động, kết nối công chúng, lan tỏa giá trị lịch sử và góp phần tạo dựng sức mạnh mềm quốc gia.
Điều đáng chú ý trong những năm gần đây là sự thay đổi trong cách các chủ thể tạo ra giá trị từ nội dung trên nền tảng số. Nhiều video truyền thông chính sách có thể thu hút hàng triệu lượt xem nhờ lối kể chuyện hiện đại và gần gũi; những chiến dịch quảng bá du lịch được đầu tư như phim ngắn; sản phẩm OCOP, làng nghề hay đặc sản địa phương được định vị bằng câu chuyện về vùng đất và con người; còn bảo tàng, di sản bước ra khỏi không gian trưng bày để hiện diện trên TikTok, podcast hay trong trải nghiệm thực tế ảo.
Có một câu hỏi mà tôi nghĩ mỗi thế hệ đều phải tự đặt ra: Chúng ta đã nhận được gì từ quá khứ và sẽ để lại gì cho tương lai? Khi bước vào một ngôi đình cổ, đứng trước một pho tượng hàng trăm năm tuổi, nghe một làn điệu dân ca hay nhìn những hiện vật trong bảo tàng, chúng ta cảm nhận rất rõ sự hiện diện của lịch sử. Nhưng phía sau những giá trị ấy là cả một quá trình con người sáng tạo, lựa chọn, gìn giữ và trao truyền.
Kho tàng di sản chỉ thực sự trở thành nguồn lực phát triển khi được số hóa, định danh, bảo hộ và chuyển hóa thành sản phẩm sáng tạo, tạo doanh thu, việc làm và sức mạnh mềm quốc gia.
Tôi rất thích ý niệm rằng ngày mai không phải là một điều gì xa xôi đang chờ ở phía trước. Ngày mai được tạo nên từng ngày, trong những lựa chọn rất cụ thể của hôm nay.
Chiều 19-8, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Bộ VH-TT-DL về công tác bảo tồn, bảo tàng.
Chiều 19/8, tại Hà Nội, phát biểu tại cuộc làm việc với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về công tác bảo tồn, bảo tàng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, trách nhiệm của thế hệ hôm nay không chỉ là bảo vệ những gì cha ông để lại, mà còn phải suy nghĩ nghiêm túc xem chúng ta sẽ để lại điều gì cho hàng trăm, hàng nghìn năm và mãi mãi về sau.
Từ đổi mới quản trị bảo tồn, bảo tàng đến đưa di sản vào đời sống, gắn với du lịch và tăng trưởng kinh tế, nhiều vấn đề được Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà và Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng đặt ra tại buổi làm việc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với Bộ VHTTDL chiều 19.8.
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được xây dựng và đưa ra lấy ý kiến trong một thời điểm rất có ý nghĩa, khi văn hóa ngày càng được xác định rõ không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực tăng trưởng và sức mạnh mềm của quốc gia.
Muốn trở thành quốc gia biển mạnh, Việt Nam không chỉ cần mạnh về kinh tế và năng lực bảo vệ chủ quyền, mà còn cần một nền văn hóa biển mạnh, đủ sức trở thành nguồn lực phát triển, sức mạnh mềm và những “cột mốc chủ quyền” bền vững trong lòng mỗi người Việt Nam.
Di sản văn hóa không chỉ là những giá trị cần được gìn giữ từ quá khứ, mà còn có thể trở thành nguồn lực cho sáng tạo, phát triển trong hiện tại. Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa được xác định là một động lực mới, yêu cầu đặt ra là đưa di sản ra khỏi không gian bảo tồn thuần túy để trở thành một phần của đời sống đương đại.
Thời gian qua, những quan điểm, định hướng mới đã đặt văn hóa Việt Nam vào vị trí nền tảng và trụ cột của phát triển. Tuy nhiên, điều quyết định không chỉ nằm ở việc xác lập vị trí đó về mặt nhận thức, mà còn ở khả năng chuyển hóa nhận thức thành phương thức tổ chức và hành động cụ thể trong thực tiễn.
Không gian văn hóa đang được xác lập như một bộ phận hữu cơ của tổng thể không gian phát triển quốc gia trước yêu cầu phát triển mới của đất nước. Văn hóa không còn chỉ là một lĩnh vực cần được bảo tồn và phát huy, mà ngày càng được đặt vào trọng tâm của mô hình phát triển với tư cách là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực, trụ cột và hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước; qua đó mở rộng khả năng tạo ra những giá trị phát triển mới, nâng cao sức mạnh mềm và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Trong chiến lược phát triển đến năm 2030, TPHCM xác định công nghiệp văn hóa là một trong những động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Để đạt mục tiêu ấy, bên cạnh nguồn nhân lực sáng tạo, thị trường và công nghệ, còn cần phát huy hiệu quả của một nguồn lực đặc biệt: di sản văn hóa.
Việt Nam đã tạo lập ngày càng nhiều dữ liệu số về di sản, nhưng phần lớn vẫn phân tán, thiếu liên thông và chưa được khai thác như một nguồn lực. Chuyển từ những bản sao số rời rạc sang hạ tầng tri thức dùng chung vì thế là điều kiện để di sản tiếp tục tạo ra giá trị cho nghiên cứu, giáo dục, sáng tạo và cộng đồng.
Có những mối đe dọa không xuất hiện bằng tiếng súng, không mang hình hài của một cuộc xung đột trực diện, song lại âm thầm tác động đến hệ giá trị, niềm tin, bản sắc, ký ức cộng đồng và khả năng tự chủ văn hóa của một quốc gia...
Trong chiến lược định hình TP Hồ Chí Minh trở thành trung tâm công nghiệp sáng tạo của khu vực, việc chuyển đổi số di sản văn hóa đóng vai trò như chiếc chìa khóa cốt lõi mở ra nguồn tài nguyên tri thức mới. Giữa dòng chảy đó, thời trang truyền thống - từ tà áo dài ngũ thân đến các dòng cổ phục đang đứng trước cơ hội bứt phá lớn khi được công nghệ 'mã hóa' thành hệ dữ liệu mở, giúp di sản vừa giữ trọn bản sắc cổ truyền, vừa trở thành động lực phát triển kinh tế bền vững.
Với kho tàng di sản đồ sộ, Việt Nam có một nguồn vốn quý mà không nhiều quốc gia có được. Trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh toàn cầu, việc chuyển hóa di sản thành nguồn lực dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và phát triển công nghiệp văn hóa là yêu cầu tất yếu đề phát huy sức mạnh mềm quốc gia, tạo động lực để phát triển đất nước.
HNN - Tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam (ngày 13/7), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có bài phát biểu hết sức quan trọng. Trong đó, người đứng đầu Đảng và Nhà nước chỉ rõ những 'khoảng trống' của phát triển văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số, đồng thời xác lập những yêu cầu mới để văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn trở thành nguồn lực nội sinh, động lực tăng trưởng và sức mạnh mềm của quốc gia.
Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 277/2026/NĐ-CP về Hạ tầng văn hóa số đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế phát triển văn hóa trên môi trường số. Không chỉ tạo hành lang pháp lý cho số hóa, kết nối và khai thác dữ liệu văn hóa, Nghị định còn mở ra không gian mới để chuyển hóa bản sắc dân tộc thành tri thức, tài sản trí tuệ, sản phẩm sáng tạo và sức mạnh mềm quốc gia.
Nghị định 277/2026/NĐ-CP đánh dấu bước ngoặt khi chuyển sang quản trị bằng dữ liệu chiến lược trên môi trường số. Điều này giúp bảo tồn di sản, thúc đẩy kinh tế sáng tạo và bảo đảm vững chắc chủ quyền văn hóa trên không gian số.