Từ nguồn lực đến năng lực sáng tạo

Câu hỏi của chặng phát triển mới không còn dừng ở việc chúng ta có bao nhiêu nguồn lực, mà là có thể tổ chức, kết nối và chuyển hóa những nguồn lực ấy đến đâu. Từ thể chế và môi trường kinh doanh đến sức sống của doanh nghiệp địa phương, từ niềm tin của người trở về quê đến cách ứng xử với di sản và căn tính miền Trung, những câu trả lời gặp nhau ở một điểm: phát triển phải để lại năng lực lớn hơn cho con người và vùng đất, để ngày mai có thể tự tạo ra những cơ hội mới.

“Giá trị của thể chế không được đo bằng số lượng văn bản được ban hành mà bằng số cơ hội phát triển được mở ra cho người dân và doanh nghiệp. Theo tôi, khoảng cách lớn nhất không nằm giữa Trung ương và địa phương, cũng không chỉ nằm giữa người làm chính sách và người thực thi, mà nằm ở khả năng biến một chủ trương đúng thành kết quả cụ thể mà người dân và doanh nghiệp có thể cảm nhận. Đó là khoảng cách giữa ý chí cải cách và năng lực tổ chức thực hiện.

Trong nhiều năm điều hành địa phương, tôi nhận thấy rằng không ít chủ trương rất đúng, rất trúng, nhưng khi triển khai lại gặp hàng loạt điểm nghẽn như quy định chồng chéo, thủ tục kéo dài, nguồn lực phân tán, sự phối hợp thiếu đồng bộ và tâm lý e ngại trách nhiệm. Người dân không đánh giá một chính sách qua những điều được viết trong văn bản, mà qua việc cuộc sống của họ có thay đổi hay không.

Chính sách không kết thúc khi Quốc hội bấm nút thông qua; chính sách chỉ thực sự bắt đầu khi người dân được hưởng lợi, doanh nghiệp có thêm động lực đầu tư và địa phương có thêm không gian để phát triển. Chính sách chỉ thực sự thành công khi đi hết quãng đường từ nghị trường đến cuộc sống.

Ở góc độ tham gia thẩm tra chính sách tại Quốc hội, tôi càng thấy rõ rằng xây dựng pháp luật không thể dừng ở việc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp hay kỹ thuật lập pháp. Một đạo luật chỉ thực sự có giá trị khi có tính khả thi, tạo động lực phát triển và giảm chi phí cho xã hội.

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, tôi cho rằng yêu cầu lớn nhất là chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển. Nhà nước không chỉ quản lý mà còn phải mở đường, dẫn dắt và tạo môi trường để mọi nguồn lực được phát huy. Mỗi chính sách cần được thiết kế với tinh thần lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, lấy hiệu quả cuối cùng làm thước đo thay vì chỉ dừng ở việc hoàn thành quy trình”.

“Niềm tin không thể trồng một lần rồi để đó. Những ngày đầu tôi lên đồi, người đi qua nhìn thấy, có người hỏi, có người cười. Tôi không thể thuyết phục họ bằng một bài nói dài, bởi chính mình lúc ấy cũng chưa có kết quả gì để chứng minh. Tôi chỉ có cách làm đều đặn: trồng cây, gánh nước, nhổ cỏ, ủ phân, sửa lại những chỗ sai và không bỏ dở.

Một năm sau cây bắt đầu xanh hơn, người ta mới hỏi. Khi đàn ong cho mật, tôi mang một ít biếu hàng xóm. Khi có sản phẩm đầu tiên, tôi nhờ mọi người dùng thử, góp ý. Có việc làm trong vườn, tôi ưu tiên người địa phương. Niềm tin hình thành từ những điều rất nhỏ như vậy. Người dân nhìn thấy mình làm thật, chịu rủi ro thật và không đến đây để lấy một dự án rồi đi.

Tôi từng nghĩ vốn là yếu tố quyết định. Sau này mới hiểu tiền có thể vay, kiến thức có thể học, còn niềm tin phải tích lũy bằng thời gian. Người dân miền núi đã chứng kiến nhiều phong trào đến rồi đi. Họ có lý do để thận trọng. Nếu mình kêu gọi họ chuyển đổi cây trồng, tham gia hợp tác xã hay làm sản phẩm mới, mình phải là người làm trước và chịu trách nhiệm với lời mình nói.

Nhiều người trẻ trở về quê có ý tưởng, có sức và một ít vốn ban đầu, nhưng khi vướng tín dụng, chứng nhận hay đất đai, họ không biết hỏi ai. Họ cô đơn ngay trên chính quê hương của mình. Đó mới là cái mệt nhất. Người trẻ trở về cần chuẩn bị kiến thức, tài chính và tâm lý. Thất bại không có nghĩa là con đường sai. Nhiều khi nó chỉ nói rằng mình đang dùng sai giống cây, sai cách làm hoặc muốn đi nhanh hơn nhịp của đất.

Tôi vui nhất khi nghe người trong bản nói rằng họ có việc và không phải rời quê. Câu nói ấy khiến tôi hiểu niềm tin đã bắt đầu nảy mầm. Nó không phải niềm tin vào riêng Linh hay một thương hiệu. Đó là niềm tin rằng đất rừng có thể tạo sinh kế nếu được khai thác đúng, rằng một người dân miền núi có thể học kỹ thuật mới, có thể làm ra sản phẩm tử tế và đưa sản phẩm tới người mua ở xa”.

Từ những bài học kinh nghiệm đó, năm 2026 và những năm tiếp theo, tỉnh Thanh Hóa sẽ chuyển hướng chiến lược, ưu tiên phân bổ nguồn lực và tập trung chỉ đạo quyết liệt vào một số trọng tâm then chốt. Hàng đầu trong chương trình nghị sự là tập trung hỗ trợ phát triển doanh nghiệp một cách bài bản, không chỉ thu hút đầu tư mới mà quan trọng là nuôi dưỡng, hình thành các doanh nghiệp lớn có thương hiệu và năng lực cạnh tranh; đồng thời nâng cao năng lực cho hàng vạn doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện có.

Chúng tôi sẽ phát triển mạnh mẽ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, coi đây là nguồn cung doanh nghiệp tương lai. Song song đó, việc kiến tạo môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch, nâng cao hiệu quả liên kết vùng và quốc tế, đưa doanh nghiệp địa phương tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu là ưu tiên hàng đầu.

Mặt khác, chúng tôi đặc biệt chú trọng đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao, xem đây là nền tảng cho sự phát triển bền vững. Chúng tôi khuyến khích tư duy đổi mới, dám thử nghiệm. Sẽ áp dụng cơ chế “sandbox” cho phép triển khai thử nghiệm các mô hình, sáng kiến mới trong một phạm vi được kiểm soát, từ đó rút kinh nghiệm và nhân rộng nếu thành công. Đồng thời, xây dựng và áp dụng bộ chỉ số hiệu suất đo lường tác động thực tế, cụ thể của chuyển đổi số và xanh đến đời sống người dân và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chuyển trọng tâm từ báo cáo thành tích sang đánh giá bằng giá trị thực tế mang lại.

Thẳng thắn mà nói, trong quá trình điều hành, phối hợp giữa các sở, ban, ngành, địa phương vẫn là một “bài toán” đau đầu và thường xuyên phát sinh vướng mắc. Vấn đề lớn nhất là sự phối hợp nhiều lúc còn thiếu tính chủ động, nhịp nhàng; vẫn tồn tại tư tưởng cục bộ, ngại va chạm, né tránh hoặc đùn đẩy trách nhiệm. Hệ quả là tiến độ giải quyết công việc, thủ tục cho người dân và doanh nghiệp bị chậm trễ, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư và niềm tin của nhân dân.

Có thể nói, sự thay đổi lớn nhất là chuyển từ tư duy xem di sản chỉ là đối tượng cần gìn giữ sang coi di sản là một nguồn lực quan trọng cho phát triển bền vững. Bảo tồn và phát triển không còn là hai mục tiêu tách rời, mà bổ trợ cho nhau. Di sản được bảo tồn tốt sẽ tạo nền tảng để phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa, giáo dục, nghiên cứu và nhiều ngành dịch vụ liên quan, qua đó đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng đời sống của cộng đồng.

Đối với Huế, chúng tôi luôn xác định bảo tồn là nền tảng, còn phát huy giá trị là mục tiêu. Mọi hoạt động khai thác di sản đều phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng tính nguyên gốc, tính xác thực và giá trị nổi bật của di tích. Khi di sản được bảo tồn đúng cách, được kể bằng những phương thức mới và gắn với các sản phẩm văn hóa, du lịch sáng tạo, thì di sản không chỉ được gìn giữ mà còn tiếp tục lan tỏa giá trị, trở thành động lực quan trọng cho sự phát triển của địa phương.

Công nghệ số đang tạo ra những phương thức hoàn toàn mới để tiếp cận và lan tỏa giá trị di sản. Với trí tuệ nhân tạo, công nghệ quét 3D, thực tế ảo hay thực tế tăng cường, du khách có thể tương tác, khám phá và trải nghiệm di sản một cách trực quan, sinh động và cá nhân hóa hơn. Tuy nhiên, chúng tôi luôn xác định công nghệ không thay thế di sản mà làm nổi bật hơn những giá trị vốn có của di sản. Bảo tồn và phát triển sinh kế không phải là hai mục tiêu đối lập mà có mối quan hệ gắn bó, hỗ trợ lẫn nhau.

Chúng tôi luôn hướng đến mục tiêu để mỗi người dân đều có thể trở thành một “đại sứ di sản”, vừa góp phần gìn giữ, lan tỏa các giá trị văn hóa, vừa tìm thấy cơ hội phát triển sinh kế từ chính những giá trị đó. Tại Huế, việc phát huy giá trị di sản không chỉ dừng lại ở tham quan di tích mà còn tạo cơ hội phát triển các dịch vụ du lịch, nghề thủ công truyền thống, ẩm thực, biểu diễn nghệ thuật, sản phẩm lưu niệm và nhiều hoạt động văn hóa sáng tạo.

Nếu như nói về căn tính của người miền Trung, trước hết là sức chịu đựng gian khổ của họ. Bản thân chúng tôi đã sống qua những năm tháng chiến tranh ở đây, những năm tháng cực khổ nhất, vừa chịu bom đạn, vừa thiếu cái ăn, cái mặc. Trên mảnh đất này, hầu như đi đến đâu người ta vẫn có thể bắt gặp quá khứ. Nếu nói về tinh thần và khát vọng hòa bình, đến Quảng Trị sẽ thấy rất rõ chiến tranh đã ác liệt, bi tráng như thế nào và khát vọng được sống trong hòa bình lớn đến thế nào.

Con người Khu Bốn cũng mang những phẩm tính chung của người Việt Nam: lòng yêu nước, cần cù lao động, sáng tạo, thủy chung, yêu thương. Nhưng có một điều tôi thấy rất rõ: người miền Trung không sợ khó, không sợ khổ mà sợ nhục. Nghèo đói kéo dài cũng là một nỗi nhục, bởi không thể cứ vin mãi vào sự khắc nghiệt của thời tiết hay hậu quả chiến tranh khi điều kiện phát triển đã khác.

Vùng đất này vẫn có những ưu đãi của nó: biển dài, biển đẹp, nhiều di sản từ Thanh Hóa vào Huế, những di sản và di tích có tầm vóc nhân loại. Tôi đặc biệt mong những người từng đi Nam, đi kinh tế mới hay vào các khu công nghiệp kiếm sống có thể trở về khi quê nhà có việc làm. Không có gì tốt hơn được lao động, được xây dựng hạnh phúc ngay trên quê hương của mình.

Tôi không hình dung một Bắc Trung Bộ chỉ chạy theo những con số tăng trưởng. Tôi mong đó là vùng đất người trẻ có thể trở về mà không thấy mình phải hy sinh tương lai; người già không cô quạnh trong những làng quê vắng con cháu; đồng bào miền núi không đứng ngoài sự phát triển; ký ức chiến tranh được gìn giữ bằng lòng biết ơn; biển và rừng không bị đánh đổi cho lợi ích ngắn hạn. Khi những điều ấy cùng hiện diện, hai chữ đáng sống mới có nội dung thật sự. Đáng sống không có nghĩa là không còn nắng gió, bão lũ hay khó khăn. Đáng sống là người dân có việc làm, con cái được học hành, môi trường tự nhiên và văn hóa được giữ gìn, mỗi người cảm thấy công sức của mình được tôn trọng. Hạnh phúc không chỉ nằm ở đích đến. Nó phải có trong cả hành trình đi tới.

Tôi hoàn toàn đồng tình với nhận định rằng trong thế giới hôm nay, thể chế đang trở thành năng lực cạnh tranh cốt lõi của một quốc gia. Nếu thế kỷ XX, các quốc gia cạnh tranh chủ yếu bằng tài nguyên, vốn và lao động thì thế kỷ XXI, họ cạnh tranh ngày càng nhiều bằng chất lượng thể chế. Bởi lẽ, vốn có thể dịch chuyển, công nghệ có thể mua, nhân tài có thể thu hút, nhưng tất cả những yếu tố ấy chỉ tìm đến những nơi có một môi trường thể chế minh bạch, ổn định và có thể dự đoán được.

Theo tôi, cần nhìn thể chế bằng một cách tiếp cận mới. Nhà nước kiến tạo không làm thay thị trường, cũng không đứng ngoài thị trường. Nhà nước tạo ra luật chơi minh bạch, bảo đảm quyền tài sản, duy trì cạnh tranh công bằng, đầu tư vào những nền tảng mà từng doanh nghiệp riêng lẻ không thể tự làm và mở không gian cho xã hội sáng tạo. Doanh nghiệp, về phần mình, mở thị trường, phát triển công nghệ, tạo việc làm và nâng sức cạnh tranh. Khi mỗi chủ thể làm đúng phần việc của mình, nguồn lực xã hội mới được giải phóng.

Cuối cùng thì thể chế không phải là những điều khoản nằm trên giấy. Thể chế chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó tạo ra niềm tin. Doanh nghiệp chỉ dám đầu tư khi tin rằng luật pháp ổn định và được thực thi công bằng. Người dân chỉ dám sáng tạo khi tin rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình được bảo vệ. Cán bộ chỉ dám hành động khi tin rằng sự tận tâm vì lợi ích chung sẽ được ghi nhận và bảo vệ.

Vì vậy, mục tiêu lớn nhất của cải cách thể chế không chỉ là làm cho bộ máy vận hành nhanh hơn, mà là xây dựng một thể chế biết khuyến khích sáng tạo, biết chấp nhận rủi ro hợp lý và biết tạo dựng niềm tin. Khi đó, thể chế sẽ không còn là “chi phí” của phát triển, mà sẽ trở thành lợi thế cạnh tranh bền vững nhất của Việt Nam. Đó cũng chính là tinh thần của giai đoạn phát triển mới: biến pháp luật từ công cụ quản lý thành động lực phát triển; biến thể chế từ điểm nghẽn thành lợi thế cạnh tranh; và biến niềm tin thành nguồn vốn quý giá nhất của quốc gia.

Bốn mươi năm trước, Đổi mới mở đường bằng việc giải phóng sức sản xuất, mở cửa thị trường và đánh thức những nguồn lực từng bị bó hẹp. Bốn mươi năm sau, câu hỏi đã chuyển sang một nấc khác: làm thế nào để mỗi nguồn lực được đưa vào phát triển lại tạo thêm một năng lực mới cho đất nước?

Hành trình qua Bắc Trung Bộ cho thấy câu trả lời không nằm ở một nguồn lực đơn lẻ. Cảng nước sâu cần gặp hành lang hàng hóa. Một dự án FDI cần gặp doanh nghiệp Việt đủ sức bước vào chuỗi cung ứng. Cánh đồng cần gặp dữ liệu và tiêu chuẩn xanh. Di sản cần gặp công nghệ nhưng vẫn giữ được ký ức. Một người trẻ muốn trở về cần gặp thị trường, hạ tầng và một môi trường đủ tin cậy để bắt đầu.

Năng lực kiến tạo hiện ra qua khả năng nối những mắt xích còn rời nhau: đưa chủ trương vào hành động, chuyển đầu tư thành kỹ năng, tài nguyên thành sinh kế và cơ hội thành lựa chọn thực chất của người dân. Nguồn lực được sử dụng tốt không chỉ tạo sản lượng hôm nay; nó còn để lại doanh nghiệp mạnh hơn, con người giỏi hơn, cộng đồng vững hơn và một vùng đất có thêm khả năng tự phát triển.

Từ những đường mòn Trường Sơn của một thời chiến tranh đến cao tốc, cảng biển, lưới điện, đường truyền dữ liệu và những chuỗi giá trị của hôm nay là một quãng đường rất dài. Nhưng đại lộ của giai đoạn mới còn có một lớp hạ tầng không nhìn thấy bằng mắt: thể chế, tri thức, niềm tin và năng lực phối hợp. Khi lớp hạ tầng ấy đủ mạnh, những lợi thế tưởng như nằm yên trên bản đồ mới có thể chuyển thành sức bật.

Đại lộ ấy không được làm chỉ bằng bê tông và nhựa đường. Đại lộ ấy được mở bằng thể chế biết dẫn đường, doanh nghiệp biết lớn lên, cộng đồng biết giữ lấy giá trị của mình và những con người có quyền lựa chọn một tương lai tốt hơn ngay trên quê hương.

Việt Nam đã đi một chặng dài của Đổi mới. Và từ đây, một hành trình khác bắt đầu: khởi hành trên Đại lộ Kiến tạo.

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/tu-nguon-luc-den-nang-luc-sang-tao.htm