Kỳ 2: Văn hóa trà tạo nên giá trị cây chè
Chè Shan tuyết hiện chủ yếu xuất khẩu thô với giá rẻ, trong khi sản xuất còn manh mún, thiếu vốn, dẫn đến tình trạng tranh mua, tranh bán, hạ giá lẫn nhau. Để giải quyết thực trạng này, Hiệp hội Chè Việt Nam (VITAS) thành lập Chi hội Chè Shan Tuyết vùng núi cao Việt Nam nhằm chuẩn hóa chất lượng, chống hàng nhái và nâng tầm giá trị chè Shan tuyết Việt Nam.
Ngày 16/9, tại Hà Nội, Hiệp hội Chè Việt Nam (VITAS) tổ chức công bố Quyết định số 53/QĐ-HHC về việc thành lập Chi hội Chè Shan tuyết vùng núi cao Việt Nam, tên giao dịch quốc tế là “Vietnam High-Mountain Snow Shan Tea Chapter”. Chi hội quy tụ các tổ chức, cá nhân sản xuất, chế biến chè Shan tuyết vùng núi cao, tạo đầu mối chuyên môn trong bảo tồn vùng chè cổ thụ, chuẩn hóa sản phẩm và phát triển thị trường.
Hiệp hội Chè Việt Nam (VITAS) vừa tổ chức lễ ra mắt Chi hội Chè Shan Tuyết vùng núi cao Việt Nam, tên giao dịch quốc tế là Vietnam High-Mountain Snow Shan Tea Chapter.
Chi hội Chè Shan tuyết vùng núi cao Việt Nam ra đời nhằm bảo tồn và phát triển các vùng chè cổ thụ hàng trăm năm tuổi.
Sáng 18/8, UBND xã Mường Khương phối hợp với Hợp tác xã Chè Mường Khương tổ chức khởi công Nhà máy chế biến chè thuộc Dự án “Liên kết hợp tác tiêu thụ, chế biến chè xuất khẩu tại các xã vùng cao biên giới Mường Khương, Pha Long”.
Xanh hóa vật liệu cho ngành xây dựng mang lại lợi ích kinh tế, đồng thời là giải pháp hữu hiệu nhằm giảm phát thải, hướng tới nền kinh tế xanh, bền vững. Thời gian qua, các công trình nghiên cứu, thử nghiệm về loại vật liệu này đã cho thấy tính khả thi cao và có nhiều tiềm năng ứng dụng trong thi công.
Sáng 29-5, Tỉnh ủy Đồng Tháp tổ chức Hội nghị sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến đến các điểm cầu trong tỉnh.
Rừng chè Shan tuyết cổ thụ không chỉ là minh chứng cho sự đa dạng sinh học tự nhiên, mà còn là một 'mỏ vàng xanh' vô giá mang sức mạnh của nền kinh tế di sản.
Khi thế giới ngày càng ưu tiên sản phẩm tự nhiên và giàu bản sắc, trà truyền thống Việt Nam đứng trước cơ hội trở thành ngành hàng xuất khẩu gắn với thương hiệu quốc gia.
Hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu khiến lợi thế cạnh tranh của các địa phương không còn chỉ được đo bằng vốn đầu tư, tốc độ tăng trưởng hay quy mô hạ tầng. Văn hóa dần khẳng định vai trò như một nguồn lực mềm, có khả năng tạo dựng niềm tin và giá trị bền vững. Với Thái Nguyên, cây chè đã vượt khỏi vai trò của một sản phẩm nông nghiệp chủ lực để trở thành biểu tượng văn hóa, phương tiện đối thoại và một trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển, hội nhập quốc tế của địa phương.
Nghị quyết 11/2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên và Nghị quyết số 08/2025 của HĐND tỉnh đã đưa ra một loạt chính sách đồng bộ để phát triển ngành chè của tỉnh. Đây được xem là cú huých, tạo động lực cho tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh chè, nhằm mục tiêu đến năm 2030 giá trị sản phẩm từ cây chè đạt 1 tỷ USD.
Ngày 30-12, Hội Chè tỉnh Thái Nguyên tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ II, nhiệm kỳ 2025-2030. Dự Đại hội có ông Hoàng Vĩnh Long, Chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam; đại diện các sở, ngành, địa phương và đông đảo hội viên.
Ngày 20-12, tại Quảng trường Võ Nguyên Giáp, diễn ra Tọa đàm 'Thái Nguyên - Hương sắc danh trà' - một trong những hoạt động trọng tâm của Lễ hội 'Thái Nguyên - Hương sắc danh trà 2025'.
HNN.VN - Lần đầu tiên được tổ chức tại TP. Huế, Liên hoan Trà Quốc tế - Huế 2025 (diễn ra từ ngày 10 - 12/12) không chỉ góp phần tôn vinh văn hóa trà Việt mà hứa hẹn sẽ là bước khởi đầu quan trọng, tạo tiền đề hình thành một sự kiện thường niên có chiều sâu văn hóa - nghệ thuật - du lịch, góp phần làm giàu bản sắc và gia tăng sức hút cho điểm đến Huế.
Sáng 6.12, chương trình Tea Summit đã diễn ra tại Tea Resort Prenn (tỉnh Lâm Đồng). Đây là hoạt động nằm trong khuôn khổ Lễ hội Trà Quốc tế năm 2025 diễn ra từ ngày 5 - 7.12.2025.
Chiều 21/11, tại Suối Giàng, xã Văn Chấn, hội thảo 'Phát triển và nâng cao giá trị trà Shan Tuyết' đã được tổ chức, với sự tham gia của các nhà khoa học cùng các chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp, văn hóa và sử học.
Phần lớn nông sản sau thu hoạch vẫn tiêu thụ ở dạng tươi sống, chưa qua chế biến, khiến giá trị gia tăng thấp. Trong khi đó, các sản phẩm chế biến, ăn liền lại ngày càng được người tiêu dùng ưa chuộng nhờ tính tiện lợi và giá thành hợp lý. Thực trạng trên cho thấy, chế biến vẫn là điểm nghẽn khiến giá trị nông sản chưa được phát huy.
Trà đã trở thành biểu tượng của sự tinh tế, lòng hiếu khách, văn hóa tao nhã ẩn chứa triết lý sống ở cả hai nước Việt Nam và Trung Quốc.
Do phần lớn chè của Việt Nam xuất đi các nước là hàng thô, chưa qua chế biến sâu, đóng gói đơn giản, thiếu nhãn mác... nên giá xuất khẩu chè trung bình của Việt Nam chỉ bằng khoảng 65% so với mức giá bình quân của thế giới. Đây là bài toán cần có lời giải đối với ngành chè.
Đồng chí Nguyễn Văn Nên đề nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy Sóc Trăng quan tâm đến chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động bị tác động khi sắp xếp, tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị và đơn vị hành chính. Trong đó, tập trung làm tốt công tác tư tưởng, làm tốt chính sách và quan tâm giải quyết từng trường hợp một cách thấu tình, đạt lý, không để ai quá thiệt thòi.
Ngày 19/3, Đoàn kiểm tra số 1915 của Bộ Chính trị do đồng chí Nguyễn Văn Nên, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh làm Trưởng đoàn đã làm việc tại Cần Thơ để thông qua báo cáo kết quả kiểm tra đối với Ban Thường vụ Thành ủy Cần Thơ.
Sáng 19-3, tại trụ sở Thành ủy TP Cần Thơ, đoàn kiểm tra số 1915 của Bộ Chính trị do đồng chí Nguyễn Văn Nên, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TPHCM, Trưởng đoàn kiểm tra, chủ trì Hội nghị thông qua báo cáo kết quả kiểm tra đối với Ban Thường vụ Thành ủy TP Cần Thơ.
An toàn thực phẩm là một trong những vấn đề then chốt trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng và đảm bảo chất lượng sản phẩm trong nước và xuất khẩu.
Mỗi năm, Việt Nam xuất khẩu khoảng 145 nghìn tấn chè, dự báo tốc độ tăng khối lượng xuất khẩu chỉ 0,8%/năm. Để tăng được giá trị của chè xuất khẩu, cần thúc đẩy canh tác chè hữu cơ, mở rộng trồng các giống chè đặc sản, đồng thời đầu tư vào chế biến đa dạng sản phẩm…
Trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, số doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) chiếm tỷ trọng lớn, tới khoảng 98%. Khối SME với số lượng chiếm đa số vẫn được coi là trụ cột của nền kinh tế Việt Nam, đóng góp 45% GDP của cả nước...
Cơ hội cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trong quá trình vươn ra thị trường quốc tế đang ngày càng rộng mở, tuy nhiên, để nắm bắt và phát huy tối đa cơ hội và vượt qua thách thức, sự đồng hành chặt chẽ của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đóng vai trò vô cùng quan trọng...
Ngành chè Việt Nam từ lâu đã được đánh giá cao về chất lượng sản phẩm, đặc biệt là các loại chè xanh. Tuy nhiên, ngành này vẫn đang đối mặt với nghịch lý khi phần lớn sản phẩm được xuất khẩu ở dạng thô, không mang thương hiệu Việt, dẫn đến giá trị kinh tế không đạt mức tương xứng. Vậy, làm sao để chấm dứt tình trạng 'áo gấm đi đêm' của ngành chè Việt?
Việt Nam hiện có gần 130.000ha chè. Diện tích trồng chè lớn tập trung chủ yếu ở khu vực trung du và miền núi phía Bắc, sau đó là các khu vực Tây Nguyên, đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Trong những năm qua, cây chè đã mang lại nguồn thu nhập ổn định cho nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, thực tế, giá trị mà cây chè mang lại chưa thực sự tương xứng với tiềm năng.
Việt Nam là quốc gia sản xuất, xuất khẩu chè (trà) đứng thứ 5 trên thế giới về sản lượng và khối lượng, nhưng kim ngạch xuất khẩu chè nhiều năm qua chỉ đạt 200-300 triệu USD/năm. Giá chè xuất khẩu cũng thấp so với giá chè của các quốc gia xuất khẩu khác trên thị trường. Vì đâu chè Việt Nam lại lâm vào tình cảnh như vậy?
Chiều 9/11, tại Cung tri thức Thành phố Hà Nội, Viện nghiên cứu các vấn đề xã hội và Hiệp hội Chè Việt Nam, phối hợp cùng Cộng đồng Yêu trà Việt tổ chức chương trình 'Chè Việt – Di sản và Tương lai' tôn vinh các doanh nghiệp gắn bó với ngành Chè Việt Nam trong những năm qua.
Xuất khẩu rau quả, cà phê đã có kim ngạch vượt trên 5 tỷ USD/năm, trong khi đó, mặt hàng chè chỉ khoảng 200 - 300 triệu USD/năm. Hơn nữa, giá chè xuất khẩu bình quân cũng chỉ đạt 1.750 USD/tấn, bằng 1/2 so với thế giới và bằng 1/3 so với tiêu thụ trong nước. Cần phải làm một cuộc cách mạng, thay đổi tư duy và sản xuất, tìm con đường thương mại mới cho chè Việt…
Việt Nam được biết đến là một trong những quốc gia sản xuất chè lớn nhất thế giới, với những vùng chè trứ danh và hương vị đặc trưng, nhưng một thực tế là giá trị của chè Việt Nam trên thị trường quốc tế vẫn đang ở mức thấp so với mặt bằng chung…
Chương trình 'Chè Việt - Di sản và tương lai' là một hành trình khám phá văn hóa trà từ khắp các vùng miền của Việt Nam.
Lãnh đạo Hiệp hội Chè Việt Nam đã thẳng thắn chỉ ra, việc sản xuất, xuất khẩu chè của Việt Nam còn theo kiểu 'dìm nhau' nên giá chè xuất khẩu của Việt Nam chỉ bằng khoảng 50- 65% so với thế giới dù lượng xuất khẩu vào top 5.
Chè của Việt Nam xuất khẩu đến hơn 70 quốc gia, vùng lãnh thổ, nhưng giá xuất khẩu bình quân chỉ bằng 65% giá bình quân của các nước hàng đầu về xuất khẩu chè và chỉ bằng 55% giá chè xuất khẩu bình quân của Ấn Độ và Sri Lanka. Tại sao?
Ngành chè với bề dày lịch sử hàng nghìn năm, từng được ví như 'vàng xanh' của đất nước, song giá chè xuất khẩu vẫn còn thấp. Theo đại diện Hiệp hội Chè Việt Nam, phải tạo được liên kết sản xuất, hình thành vùng nguyên liệu chất lượng mới nâng cao giá bán lên được. Nếu cứ 'dìm nhau', phân tán, phân chia thị trường thì khó thoát khỏi bẫy giá rẻ của thế giới.