Thị trường ô tô tăng trưởng mạnh trong nửa đầu năm 2026 khi xe điện, xe hybrid và lượng xe nhập khẩu tiếp tục mở rộng. Tuy nhiên, phía sau mức tăng của doanh số là một bức tranh tài chính nhiều sức ép: cạnh tranh về giá làm biên lợi nhuận kinh doanh cốt lõi thu hẹp, hàng tồn kho tăng, dòng tiền hoạt động suy yếu, trong khi chi phí vay và nhu cầu tái cấp vốn cùng gia tăng. VIS Rating cho rằng, những yếu tố này sẽ tiếp tục gây áp lực lên hồ sơ tín nhiệm của ngành ô tô trong 6 tháng cuối năm.
Cuộc đua huy động vốn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt khi tín dụng tăng nhanh và nhu cầu vốn của nền kinh tế tiếp tục ở mức cao.
Chia sẻ với phóng viên Thời báo Tài chính Việt Nam, bà Nguyễn Thị Kiều Hạnh - Trưởng nhóm Phân tích, VIS Rating nhận định, các quy định mới tại Thông tư 138/2026/TT-BTC góp phần tăng tính minh bạch, khả năng giám sát và bảo vệ nhà đầu tư.
Những tháng cuối năm nay, thị trường trái phiếu doanh nghiệp vẫn ghi nhận áp lực khi khối lượng lớn trái phiếu đến hạn, trong đó trái phiếu bất động sản chiếm tỷ trọng đáng kể. Nhiều doanh nghiệp đang thương thảo, giãn hoãn, chậm thực hiện nghĩa vụ với trái chủ.
Dòng vốn FDI tiếp tục tăng tốc, kéo nhu cầu thuê đất khu công nghiệp phục hồi mạnh, song lợi nhuận quý 3/2026 được dự báo phân hóa rõ giữa các doanh nghiệp do khác biệt về quỹ đất, tiến độ bàn giao và nguồn thu…
Dòng vốn FDI duy trì mạnh, nhu cầu thuê đất phục hồi rõ nét đang tạo nền tảng thuận lợi cho các chủ đầu tư khu công nghiệp. Tuy nhiên, phía sau triển vọng tích cực là áp lực chi phí vốn, lượng trái phiếu đáo hạn và rủi ro dòng tiền tại những doanh nghiệp mở rộng đầu tư ngoài hoạt động cốt lõi.
Trong quý 2/2026, tín dụng bất động sản khu công nghiệp tăng 32% so với quý trước, chủ yếu đến từ các chủ đầu tư lớn gồm IDC, KBC và BCM, với tổng dư nợ tăng lần lượt 55%, 25% và 18%.
Trước nhu cầu bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn, các ngân hàng thương mại đang đẩy mạnh phát hành trái phiếu với mức lãi suất ngày càng cao. Nhiều lô trái phiếu có lãi suất từ 9%/năm trở lên, thậm chí áp sát mốc 10%/năm, cho thấy chi phí huy động vốn dài hạn đang gia tăng đáng kể.
TP. Hồ Chí Minh đang chuẩn bị đưa trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình thành kênh vốn dài hạn cho các dự án hạ tầng lớn. Điểm mới của hoạt động này là từng bước gắn nguồn vốn huy động với dự án cụ thể và mở rộng khả năng tiếp cận nhà đầu tư tổ chức trong, ngoài nước.
Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Phan Duy Hưng - Giám đốc Cấp cao Ban Định chế Tài chính, VIS Rating cho rằng, động lực chính thúc đẩy ngân hàng mua lại trái phiếu trước hạn là kéo dài kỳ hạn nguồn vốn và bảo đảm các tỷ lệ an toàn, thay vì đơn thuần giảm chi phí vốn.
Lô trái phiếu BCML12601 có lãi suất 11%/năm, được bảo đảm bằng bất động sản tại Thành phố mới Bình Dương và dự kiến đáo hạn vào tháng 8/2029.
Công ty TNHH Đầu tư Starbay Hà Nội vừa được chấp thuận giải chấp một phần tài sản bảo đảm cho lô trái phiếu STA12601 trị giá 2.780 tỷ đồng, trong khi báo cáo tài chính cho thấy quy mô nợ phải trả của doanh nghiệp tăng mạnh lên hơn 8.100 tỷ đồng và kết quả kinh doanh chuyển từ lãi sang lỗ trong nửa đầu năm 2026.
Tăng trưởng của các công ty chứng khoán liên kết với ngân hàng đang trở thành động lực chính của toàn ngành, song sự phụ thuộc vào khách hàng margin lớn và một số tổ chức phát hành trái phiếu khiến rủi ro ngày càng gia tăng…
Theo chuyên gia của VIS Rating, Việt Nam không thiếu vốn nhưng thiếu cơ chế biến dòng tiền dài hạn thành nguồn vốn phù hợp cho các dự án hạ tầng.
Sau một thời gian thận trọng với tăng trưởng, thị trường tài chính tiêu dùng đang sôi động trở lại. Dư nợ tăng, hoạt động huy động và thay đổi sở hữu diễn ra liên tiếp, cho thấy các công ty tài chính đang bước vào một vòng cạnh tranh mới về nguồn tiền đầu vào.
Lãi suất cho vay bình quân tại nhiều ngân hàng đã vượt 10%/năm, trong khi lãi suất huy động tiếp tục tăng, tạo sức ép lên mặt bằng lãi suất cuối năm.
CTCP Tập đoàn Trường Hải (Thaco) vừa hoàn tất phát hành lô trái phiếu trị giá 2.000 tỷ đồng để rót vào dự án trung tâm dịch vụ thương mại - siêu thị.
Giai đoạn 2025 – 2030, Việt Nam cần khoảng 245 tỷ USD cho các dự án lớn, trọng điểm và cần huy động từ nhiều nguồn vốn khác nhau.
Dù dòng tiền gửi liên tục chảy mạnh vào hệ thống, áp lực cân đối thanh khoản của các ngân hàng vẫn hiện hữu khi tốc độ bơm vốn ra nền kinh tế được dự báo tăng mạnh trong thời gian tới.
VIS Rating cho rằng các công ty chứng khoán liên kết với ngân hàng đang dẫn dắt tăng trưởng toàn ngành trong nửa đầu năm 2026 nhờ nguồn vốn mới. Tuy nhiên, nhóm xếp hạng tín nhiệm cũng lưu ý về rủi ro chi phí vốn cao, lợi suất đầu tư cổ phiếu suy giảm và mức độ tập trung tín dụng gia tăng.
Nhu cầu xây dựng phục hồi mạnh trong 6 tháng đầu năm 2026 nhờ đầu tư công và bất động sản, nhưng chi phí đầu vào, vốn vay đang tạo áp lực lên biên lợi nhuận và sức khỏe tài chính của doanh nghiệp.
Áp lực chi phí đầu vào vẫn đáng kể khi giá thép xây dựng tăng 8%-10% so với cùng kỳ, trong khi giá xi măng tăng 3%-4%. Chi phí vật liệu tăng đang hạn chế khả năng cải thiện biên lợi nhuận của các doanh nghiệp xây dựng trong bối cảnh nhu cầu cao.
Theo VIS Rating, ngành xây dựng Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ nhờ các trợ lực từ đầu tư công và sự phục hồi của thị trường bất động sản. Tuy nhiên, sự gia tăng về chi phí và áp lực tài chính đang tạo ra sự phân hóa tín nhiệm ngày càng sâu sắc giữa các doanh nghiệp trong ngành…
Ngành xây dựng Việt Nam đang hưởng lợi từ giải ngân đầu tư công tăng tốc, thị trường nhà ở phục hồi và môi trường pháp lý thuận lợi hơn. Tuy nhiên, giá vật liệu, nhân công và chi phí vốn gia tăng khiến biên lợi nhuận chịu sức ép, dòng tiền phân hóa. Trong cuộc đua chuyển backlog (giá trị các hợp đồng hoặc khối lượng công việc doanh nghiệp đã ký kết nhưng chưa hoàn thành, chưa ghi nhận hết vào doanh thu) thành doanh thu, các nhà thầu lớn đang có nhiều lợi thế hơn về triển khai dự án, đàm phán và khả năng trả nợ.
Cùng với các đợt phát hành quy mô lớn, hơn 1.266 tỷ đồng trái phiếu cũng được doanh nghiệp mua lại trước hạn.
Lãi suất một số lô trái phiếu tăng cao, cá biệt 13,5%/năm. Trước diễn biến này, chuyên gia tài chính đưa ra một số lưu ý đầu tư.
Ngân hàng chiếm tới 82% tổng giá trị trái phiếu phát hành tháng 8/2026, nhóm doanh nghiệp bất động sản kém sôi động hơn, song lãi suất phát hành được đẩy cao chót vót.
Áp lực trái phiếu đáo hạn gia tăng về cuối năm, trong khi dòng vốn mới vào bất động sản ngày càng phân hóa và tập trung ở một số doanh nghiệp.
Áp lực bù đắp nguồn vốn dài hạn giữa bối cảnh huy động tiền gửi gặp khó đã biến thị trường trái phiếu tháng 8/2026 thành sân chơi riêng của các ngân hàng, kéo theo cuộc đua lãi suất lên đỉnh điểm 10%/năm.
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp tháng 8/2026 ghi nhận giá trị phát hành mới giảm 16% so với tháng trước, xuống 35.000 tỷ đồng. Dù quy mô toàn thị trường thu hẹp, khối ngân hàng vẫn tăng tốc huy động vốn qua kênh trái phiếu, chiếm tới 82% tổng giá trị phát hành mới.
Tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp đáo hạn trong 12 tháng tới ước tính khoảng 253.000 tỷ đồng, riêng 4 tháng cuối năm 2026, giá trị đến hạn khoảng 95.000 tỷ đồng.
Áp lực trả nợ gia tăng, nhu cầu vốn của doanh nghiệp địa ốc rất lớn. Để duy trì sự sống còn, nhiều "ông lớn" không ngần ngại rao bán tài sản hoặc chấp nhận huy động vốn với mức lãi suất hơn 12%/năm nhằm khơi thông dòng tiền đang tắc nghẽn.
Những thay đổi về khung pháp lý mới đang từng bước mở thêm dư địa để thị trường trái phiếu doanh nghiệp đa dạng nguồn cung, nâng chất lượng hàng hóa và thu hút dòng vốn dài hạn.
Trọng tâm ngành ngân hàng đang chuyển sang khả năng kiểm soát chất lượng tài sản và duy trì bộ đệm đủ lớn để hấp thụ rủi ro trong bối cảnh còn nhiều biến động.
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp tiếp tục phân hóa khi ngân hàng giữ vai trò dẫn dắt, bất động sản giảm mạnh hoạt động phát hành. Trong khi áp lực đáo hạn quý III hạ nhiệt, lãi suất bình quân 7 tháng vẫn ở mức khoảng 9,5%/năm, đặt ra yêu cầu cao hơn về dòng tiền, hiệu quả sử dụng vốn và chất lượng tổ chức phát hành.
Mặt bằng lãi suất trái phiếu ngân hàng giảm còn 8,5%/năm, cho thấy chi phí huy động vốn qua kênh này đang dần hạ nhiệt.
Tỷ lệ nợ quá hạn toàn ngành ngân hàng tăng lên 3,8% trong 6 tháng đầu năm 2026 từ 3,3% cuối năm 2025, do áp lực suy giảm khả năng trả nợ gia tăng ở cả nhóm khách hàng bán lẻ và doanh nghiệp.