Từ năm học 2026-2027, Việt Nam triển khai giáo dục trí tuệ nhân tạo (AI) cho học sinh phổ thông. Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa vào chương trình 12 bài học AI cốt lõi từ lớp 1 đến lớp 12, tập trung vào 4 lĩnh vực: tư duy lấy con người làm trung tâm, đạo đức AI, kỹ thuật và ứng dụng AI, thiết kế hệ thống AI.
Trẻ em ngày càng tiếp xúc sớm với trí tuệ nhân tạo (AI), mạng xã hội và các nền tảng số. Theo GS.TS. Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, câu hỏi hiện nay không còn là có nên cho trẻ tiếp cận công nghệ hay không, mà là làm thế nào để các em hiểu, sử dụng công nghệ có trách nhiệm và không để công nghệ thay thế việc học.
Không còn là câu chuyện “cấm hay không cấm”, các chuyên gia và nhà quản lý giáo dục cho rằng, cần đặt trẻ em làm trung tâm, biến AI thành đối tác đồng hành, thay vì phụ thuộc, nhằm đảm bảo sự phát triển an toàn, sáng tạo và nhân văn.
Khảo sát được GS Lê Anh Vinh công bố cho thấy 90,5% học sinh THCS tham gia khảo sát dùng AI, nhưng 35% khó phân biệt thông tin đúng hay sai.
Trẻ em cần được trang bị hiểu biết để sử dụng AI an toàn, hiệu quả và có trách nhiệm. Công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi hỗ trợ các em học tốt hơn, chứ không phải “học” thay học sinh.
AI đang thay đổi cách dạy học và vận hành nhà trường, nhưng số hóa nhiều hơn chưa đồng nghĩa học sinh học tốt hơn. Tại Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số, ngày 8-9/10 tại Hà Nội, các chuyên gia nhấn mạnh giá trị của AI cần được kiểm chứng qua sự tiến bộ về kiến thức, tư duy và năng lực tự học của học sinh.
Ngày 7/10, Bộ GD&ĐT tổ chức hội thảo góp ý, đề xuất nội dung phát triển Chương trình giáo dục phổ thông.
Thực tế cho thấy, giáo dục dinh dưỡng cho học sinh là nhiệm vụ cấp thiết của nhà trường, góp phần cải thiện thể chất và sức khỏe lâu dài cho thế hệ trẻ.
Từ năm học 2026 - 2027, giáo dục trí tuệ nhân tạo (AI) được triển khai đại trà trong các trường phổ thông. Bên cạnh cơ hội đổi mới dạy học, việc này đặt ra yêu cầu về năng lực giáo viên, hạ tầng và khả năng tiếp cận công nghệ giữa các vùng miền.
Cán bộ phụ trách giáo dục cấp phường, xã được trang bị kỹ năng khai thác AI an toàn, hiệu quả, hỗ trợ xử lý công việc và quản lý giáo dục.
Việc đưa AI vào trường học đang nhận được sự quan tâm của các cơ sở giáo dục cũng như xã hội. Trước những băn khoăn về việc có cần đưa AI vào giáo dục phổ thông sớm hay không, Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo), chia sẻ về cách hiểu và định hướng triển khai nội dung này.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang dần cải tiến phương thức giáo dục, mở ra những triển vọng mới giúp cá nhân hóa tiến trình học tập, tối ưu hóa công tác giảng dạy và quản lý hiệu quả hơn. Tích hợp AI vào giáo dục sẽ tạo ra sự thay đổi mang đến nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức.
Đưa AI vào trường học: Cơ hội và thách thứcTrên thế giới, các hệ thống giáo dục đang tìm cách đặt ra những “hàng rào” phù hợp về độ tuổi, cách sử dụng và mức độ giám sát với trẻ em. Việt Nam chọn hướng đưa AI vào trường học, nhưng đi cùng là yêu cầu về an toàn, đạo đức và trách nhiệm trong cách học sinh sử dụng công nghệ này.
Chiều 10/9, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Quang Hưng dự hội nghị công bố quyết định bổ nhiệm và làm việc tại Viện Chiến lược và Chính sách Giáo dục.
Chương trình giáo dục mầm non mới triển khai thí điểm từ năm học 2026-2027. Chương trình hướng tới 4 phẩm chất cho trẻ: Yêu thương, tôn trọng, trung thực, trách nhiệm và 5 năng lực: Tự lực, thích ứng, giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề.
Từ các lớp tập huấn đến kế hoạch của từng nhà trường, chương trình giáo dục mầm non mới đang chuẩn bị bước vào những giờ học đầu tiên của năm học 2026-2027 tại 510 cơ sở thí điểm. Với tính mở cao, chương trình trao thêm quyền chủ động cho các nhà trường và giáo viên nhưng cũng đặt ra những yêu cầu mới.
Việt Nam hiện có hơn 53 triệu lao động, nhưng chỉ khoảng 1/3 trong số đó được đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 ghi nhận 311 bài thi Tiếng Anh đạt điểm 10, nhưng tỷ lệ dưới trung bình vẫn vượt 50%. Trong khi đó, chỉ hơn 28% thí sinh tự nguyện chọn ngoại ngữ để thi. Những con số này cho thấy sự phân hóa về năng lực ngoại ngữ, đồng thời đặt ra yêu cầu phải hiểu đúng mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học và có cách tiếp cận phù hợp với từng nhóm cơ sở giáo dục.
Dự thảo Khung phát triển chuyên môn cho giáo viên Việt Nam đề xuất 6 lĩnh vực năng lực và 4 cấp độ phát triển nghề nghiệp.
Theo chuyên gia, để mô hình 'trường phổ thông xã hội chủ nghĩa' có cơ sở triển khai trong thực tiễn, cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá và tổ chức thí điểm tại một số cơ sở giáo dục. Kết quả từ quá trình này sẽ góp phần hoàn thiện mô hình, tạo cơ sở để xem xét nhân rộng trên phạm vi cả nước.
Mô hình trường phổ thông XHCN phải lấy sự phát triển toàn diện của người học làm trung tâm, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục.
Truyện 'Chú robot tưởng mình là người' trở thành ngữ liệu cho đề Ngữ văn thi lớp 10 ở TP.HCM năm 2026.
Hơn 260 chuyên gia, nhà quản lý và đại diện các trường đại học, doanh nghiệp đã thảo luận về AI, kỹ năng tương lai và đổi mới giáo dục đại học ASEAN tại TP.HCM.
Chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi sâu sắc hoạt động dạy học, đặt ra yêu cầu đổi mới công tác đào tạo giáo viên. Trong bối cảnh đó, các cơ sở đào tạo sư phạm cần đổi mới chương trình, phương pháp đào tạo, đồng thời trang bị cho đội ngũ giáo viên tương lai năng lực làm chủ công nghệ, khai thác AI hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm.
Theo các chuyên gia, cần thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và thị trường lao động nhằm thúc đẩy công nhận kỹ năng hướng tới dịch chuyển lao động.
Đảng và Nhà nước luôn xác định bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe trẻ em, học sinh, sinh viên là nhiệm vụ đặc biệt ưu tiên, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của thế hệ trẻ.
Sự gia tăng lực lượng lao động tại các khu công nghiệp khiến nhu cầu gửi trẻ, chăm sóc và giáo dục mầm non tăng mạnh.
Sáng 6/7, Hội thảo quốc tế ICALT 2026 khai mạc tại Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên, quy tụ hơn 130 nhà khoa học, chuyên gia đến từ 29 quốc gia.
Mùa hè này, hàng nghìn giáo viên trên cả nước đang tham gia các lớp tập huấn, cập nhật kỹ năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong dạy học, bồi dưỡng tâm lý học đường cho năm học 2026-2027. Đây là bước chuyển động của ngành giáo dục trong việc chuẩn bị đội ngũ trước những yêu cầu mới của thời đại.
Nhận xét về phổ điểm thi tốt nghiệp THPT năm 2026, chuyên gia cho hay tỷ lệ điểm giỏi năm nay đã giảm hẳn.
Từ phổ điểm thi tốt nghiệp THPT, chuyên gia khuyên không nên chạy đua học thêm hết nơi đến nơi khác, chỉ cần học sách giáo khoa là đạt điểm khá môn Toán.
Phổ điểm thi tốt nghiệp THPT 2026 có sự phân hóa rõ rệt, giảm tình trạng điểm cao tập trung ở nhiều môn, đồng thời phản ánh đúng năng lực của thí sinh.
Sáng 1/7, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố điểm thi tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2026 và phổ điểm các môn thi, tổ hợp một số môn thi truyền thống.
Phổ điểm thi tốt nghiệp THPT 2026 vừa công bố lập tức thu hút sự quan tâm lớn của dư luận. Những biến động về số liệu và dự báo điểm chuẩn vào các trường đại học top đầu sẽ được các chuyên gia phân tích chi tiết dưới đây.
GS. TS Lê Anh Vinh - Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cho rằng, phổ điểm kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 cho thấy nhiều tín hiệu tích cực về tính ổn định của kỳ thi. Đáng chú ý, điểm trung bình môn Tiếng Anh thấp hơn năm trước không đồng nghĩa chất lượng dạy và học đi xuống, mà chịu tác động từ sự thay đổi trong cơ cấu thí sinh dự thi.
Phổ điểm thi tốt nghiệp THPT năm 2026 cho thấy nhiều chuyển biến đáng chú ý trong cách dạy học và đánh giá theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Từ Ngữ văn với xu hướng đánh giá năng lực thay vì kiểm tra ghi nhớ, môn Toán phản ánh những thay đổi trong cách dạy và học, đến Tiếng Anh với những biến động cần được nhìn nhận đầy đủ hơn.
Điểm trung bình môn Toán thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026 của thí sinh cả nước tăng lên gần 1 điểm so với năm 2025. Kết quả điểm thi môn Toán năm nay cũng ghi nhận có 4.208 bài thi điểm 10, tăng cao hơn 8 lần so với năm 2025 có 513 điểm 10.
Phân tích phổ điểm kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, nhiều chuyên gia cho rằng đề thi năm nay đã tăng khả năng phân loại, phản ánh sát hơn năng lực của thí sinh khi không còn 'mưa' điểm giỏi. Kết quả này tạo cơ sở tin cậy hơn cho tuyển sinh đại học và gợi mở nhiều vấn đề cần tiếp tục đổi mới trong giáo dục phổ thông.
Ngay sau khi Bộ GD-ĐT công bố điểm thi và phổ điểm các môn thi, nhiều chuyên gia giáo dục đã nhận định về kết quả điểm thi năm nay.
Theo thống kê, tỷ lệ điểm dưới trung bình môn Tiếng Anh thi tốt nghiệp THPT năm ngoái là 45%, năm nay là 50%. Những năm trước đó, môn Tiếng Anh cũng luôn luôn có tỷ lệ dưới trung bình ở mức cao: 42%, 44%.
GS.TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã có những đánh giá tích cực khi phân tích phổ điểm môn thi tốt nghiệp THPT 2026.
Phổ điểm Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 được nhiều chuyên gia đánh giá có sự phân hóa rõ hơn, phản ánh bước chuyển trong dạy học, kiểm tra, đánh giá theo Chương trình GDPT 2018. Đây cũng là dữ liệu quan trọng để các trường đại học, cao đẳng sử dụng trong tuyển sinh.
Sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố phổ điểm thi tốt nghiệp THPT 2026, GS.TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam chia sẻ, khi xu hướng học sinh học tốt tiếng Anh được miễn thi ngày càng nhiều, thì việc điểm trung bình thấp không phải do vấn đề chất lượng dạy và học.
Phổ điểm thi tốt nghiệp THPT 2026 vừa công bố đang thu hút sự quan tâm lớn từ dư luận. Những biến động số liệu cùng dự báo điểm chuẩn trường top đầu sẽ được các chuyên gia hàng đầu phân tích ngay sau đây.
Thứ trưởng Nguyễn Thị Quyên Thanh nhấn mạnh, giáo viên mầm non đang chịu áp lực cao về cường độ lao động, yêu cầu nghề nghiệp ngày càng cao, trong khi mạng lưới cơ sở giáo dục giữa các vùng miền còn chênh lệch, điều kiện làm việc ở nhiều nơi chưa tương xứng.
Từ học kỳ I năm học 2026-2027, Chương trình Giáo dục mầm non sẽ được triển khai thí điểm tại 510 cơ sở giáo dục mầm non trên cả nước. Mỗi tỉnh, thành phố lựa chọn 15 trường tham gia, bảo đảm có đại diện vùng thuận lợi, vùng khó khăn, trường công lập, ngoài công lập, trường có trẻ em dân tộc thiểu số và trẻ em hòa nhập.